Chiến dịch giải phóng Quảng Trị và Thành cổ qua đánh giá từ phía bên kia (Kỳ cuối)
QĐND - Thứ tư, 21/03/2012 | 21:31 GMT+7

QĐND - Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ ác liệt và hy sinh, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu kiên cường, chỉ trong vòng từ 28-6 đến 27-7-1972, các đơn vị chốt giữ thị xã và Thành cổ đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 2 và hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, buộc sư đoàn dù (đã bị thương vong gần 5000 tên) phải lui về phía sau củng cố. Trong những ngày này, học giả người Mỹ W.R.Baker đã đánh giá: “Cộng sản tấn công với tốc độ nhanh và chính xác. Đây là những cuộc tấn công hướng tới Thành cổ Quảng Trị và quan trọng nhất là một số đơn vị của Cộng sản là lực lượng tại chỗ ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của Việt Nam cộng hòa”.

Quân giải phóng đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu ngày 31-3-1972. Ảnh: Đoàn Công Tính

 

Bước sang tháng 8 và tháng 9, cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở khu vực thị xã và Thành cổ ngày càng diễn ra ở mức độ cao hơn. Về phía quân địch, để hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày, nhưng trước sức tiến công của ta, Mỹ-ngụy đã phải cay đắng thừa nhận: “Hiệu quả chiến đấu của Quân lực Việt Nam cộng hòa không đều, họ đứng vững được bởi sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ từ trên không, trong đó phải kể đến các phi vụ B52 liên tiếp rải thảm xuống đội hình đối phương”[1], và: “Các điểm yếu nội tại trong cấu trúc chỉ huy của Việt Nam cộng hòa đã xuất hiện trở lại, khi họ tỏ ra quá phụ thuộc vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ”[2]. Trong Tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ đã viết: “Các lực lượng Việt Nam cộng hòa vẫn lúng túng trong cố gắng tìm cách dung hòa giữa những yêu cầu bảo đảm an ninh cho dân chúng và với chiến tranh cơ động đã không được chuẩn bị đầy đủ về tâm lý hay chiến thuật để có thể đương đầu với quân Bắc Việt Nam ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng”[3].

Về phía ta, để giữ được Thành cổ phải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động, dùng pháo binh, xe tăng đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn súng phòng không cơ động ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng ào tới chiếm các mục tiêu của địch. Trong khi đó, các đơn vị quân đội Sài Gòn không quen cầm cự với hỏa lực pháo tập trung và chưa được huấn luyện để chặn cuộc tiến công ồ ạt của xe tăng, đã tán loạn kinh hoàng trước cuộc tấn công thần tốc của ta.

Từ 28-6 đến 16-9-1972, trải qua 81 ngày đêm để chiếm lại Thành cổ Quảng Trị rộng 16ha và cả thị xã Quảng Trị hơn 3km2, Mỹ đã ném xuống đây 328.000 tấn bom. Báo chí phương Tây thời đó bình luận tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hi-rô-si-ma (Nhật Bản) năm 1945. Trong những ngày đó, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, mưa lũ triền miên để bám trụ và chiến đấu với các đối tượng sừng sỏ, thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn với sự yểm trợ hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Tờ U-ôn của Mỹ đã viết: “Kỷ luật, lý tưởng và tinh thần coi thường cái chết đã kết hợp với nhau như thế nào mà khiến các binh sĩ Việt Cộng vẫn xông lên dưới mưa bom B52? Không có một nhà phân tích nào ở Mỹ đi đến một giải thích đầy đủ”.

Cũng trong quá trình diễn ra chiến dịch, nhiều tờ báo tại Mỹ và phương Tây đã bình luận về kết cục bi thảm của nó. Tờ Tin Mỹ và Thế giới, số ra ngày 21-8-1972 viết rằng: “Hệ thống phòng thủ ở Bắc Việt Nam hiện đại, rộng khắp và có hiệu quả, đến nỗi trong bất cứ một trận đánh nào 90% máy bay của không quân (Mỹ) phải lo tự bảo vệ, đề phòng bị MiG tiến công, đồng thời khống chế súng phòng không và tên lửa từ mặt đất bắn lên…”[4]. Tờ tạp chí Time của Mỹ, số ra ngày 25-9-1972 đăng tải: “Việc chiếm Quảng Trị sẽ đưa đến cho Sài Gòn một sự quảng cáo tâm lý chiến rất cần thiết. Nhưng nó tuyệt nhiên không hoàn thành mục tiêu mà Thiệu đã tuyên bố. Tướng Mỹ Frederick Weyand một tuần trước đó đã báo cáo rằng, ước tính Cộng sản vẫn nắm giữ khoảng một nửa Nam Việt Nam. Hơn nữa, trận đánh chiếm Quảng Trị một lần nữa lại đặt ra những câu hỏi chết người về chiến lược căn bản của cuộc phản công của Thiệu, đó là phó thác quân đội vào những trận đánh đơn lẻ và tổn thất cho những thành phố có tầm quan trọng thứ yếu về mặt quân sự. Đối với Quảng Trị, giờ đây nó chỉ là một đống gạch vụn”[5]. Đại tá Allen chỉ huy trưởng ở Bulge đã chỉ ra rằng: “Chúng tôi đã đánh giá đúng lý do vì sao các lực lượng Mỹ và Nam Việt Nam thất bại trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972 và chiến dịch này được gọi là “Thất bại tình báo”, bởi vì Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hoàn toàn bất ngờ”.  

Còn Bộ tư lệnh MACV (cơ quan cố vấn về mọi hoạt động huấn luyện cho quân đội Sài Gòn) đã đưa ra một mệnh lệnh yêu cầu các cố vấn Mỹ phải chuyển sang các cuộc hành quân chiến thuật bằng đơn vị nhỏ, loại bỏ việc hành quân tập trung kiểu Mỹ và nhận định: “Những trận chiến đấu sử dụng các đơn vị lớn coi như đã qua rồi. Cuộc tiến công năm 1972 đã làm cho MACV phải nhanh chóng xét lại vấn đề”[6].

 Việc để mất tỉnh Quảng Trị đã làm cho Mỹ - ngụy hoang mang, dao động mạnh. Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, tướng Cao Văn Viên thú nhận: “Cuộc tiến công năm 1972 của Bắc Việt đã làm nổi lên một cách bi thảm nhất sự yếu kém cơ bản của quá trình Việt Nam hóa chiến tranh”. Thất bại đó, chứng tỏ nếu quân đội Sài Gòn không có sự hỗ trợ của quân Mỹ, đặc biệt về hỏa lực thì quân đội Sài Gòn khó đứng vững trước sức tiến công của chủ lực Quân giải phóng. Nhiều học giả tại Mỹ và phương Tây bình luận rằng: Một yếu tố bất ngờ góp phần cho sự thắng lợi của Bắc Việt Nam trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị chính là các chỉ huy Mỹ và Nam Việt Nam quá tự tin về họ, vi phạm nguyên tắc đánh giá thấp đối phương và chiến trường Quảng Trị trở nên khốc liệt, đẫm máu bởi sự hy sinh mất mát quá lớn của cả hai bên.

Nhưng theo đồng chí Lê Đức Thọ, sau Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, tại Pa-ri, Kít-xinh-giơ có nói (đại ý): Đứng về mặt quân sự mà nói thì cả hai bên đánh nhau để giữ một cái Thành cổ như vậy thì không ai lại đánh như thế cả. Trả lời Kít-xinh-giơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi, chứ còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”[7]. Đúng như vậy, bởi vì thắng lợi về quân sự trên chiến trường sẽ tạo lợi thế trên bàn Hội nghị. Lúc này, tại Pa-ri, đàm phán hòa bình tiếp diễn và nó đã đi đến hồi kết sau khi Mỹ thất bại tiếp trong “Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972./.

Trung tá, TS Trương Mai Hương

(Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


[1] Palmer, Dave Ri chard, Summons of the Trumpet: A History of the Vietnam War From A Military Mans Viewpoint.
NovatoCA: Presidio Press, 1999, tr.324.

[2] Andrade, Dale, Trial By Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Việt NamBattle, New York: Hippocrene Books, 1995, tr. 529

[3] Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tập 6: Tiến hành chiến tranh, Tài liệu do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dịch, tr.9.

[4] Tờ Tin Mỹ và Thế giới, số ra ngày 21.8.1972.

[5] Tạp chí Time của Mỹ, số ra ngày 25.9.1972

[6] Tài liệu của Việt Nam cộng hòa năm 1970 - 1972, Phông số 4, Hồ sơ số 148, Lưu TTXVN

[7] Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ (tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.739.

Chiến dịch giải phóng Quảng Trị và Thành cổ qua đánh giá từ phía bên kia (Kỳ 2)

Gõ tiếng việt: Off Telex