Lặng thầm cho những chuyến đi
QĐND - Thứ sáu, 28/10/2011 | 17:33 GMT+7

QĐND Online - Trong nhà riêng ở xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Đại tá-CCB Nguyễn Hữu Tuần, nguyên Trưởng ban Tác chiến- Huấn luyện Lữ đoàn 125, người trực tiếp làm kế hoạch cho các đội Tàu không số, kể với chúng tôi về những kỷ niệm của một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên trong ông…

Chuẩn bị cho những chuyến đi-vài câu chuyện nhỏ

Về Đoàn 125, tôi được giao nhiệm vụ biên soạn và bổ sung các phương án chiến đấu, phương thức đi biển, giao thả hàng, để các đội tàu đi dài ngày trên biển độc lập tác chiến và xử trí mọi tình huống. Trước đó, các tàu của ta không có hải đồ tỷ lệ nhỏ ven biển miền Nam để tham khảo vào bến chính xác, mà chỉ có loại hải đồ 1/1.000.000 dùng ở miền Bắc. Chúng tôi có sáng kiến và được thủ trưởng Đoàn đồng ý mở lớp huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ hàng hải cách đo xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Có lẽ đây là phương pháp định vị tàu độc nhất vô nhị trên thế giới: chỉ với máy 1/6, chân trời-góc biển tưởng tượng, các sao cố định.

Cùng thời gian đó, nước bạn nhận cải dạng một số tàu theo mẫu thiết kế của ta và đóng mới cho ta hai tàu vận tải tốc độ cao, có trang bị ra-đa phát hiện mục tiêu, dẫn đường, để né tránh địch và vào bến.

Tháng 8-1965, Tàu 68 do đồng chí Đỗ Văn Bé làm thuyền trưởng, Trần Ngọc Ẩn làm Chính trị viên cải dạng, đi trinh sát toàn khu vực biển Đông và khu vực quần đảo Trường Sa, đồng thời kiểm tra kết quả lớp học xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Kết quả chuyến trinh sát được đưa về Đoàn, làm cơ sở để nghiên cứu những yếu tố sơ hở của địch và lựa chọn phương pháp đưa tàu của ta về bến giao hàng hoặc quay về an toàn. Trong chuyến đi này có chuyện rất vui mà anh em Đoàn còn nhớ mãi. Khi giao nhiệm vụ cho cán bộ chiến sĩ tàu, tôi quán triệt quy định “tuyệt đối không được lên đảo”. Đến khi về, tôi cũng là người đầu tiên xuống gặp anh em để nắm tình hình để viết bản tổng kết. Khi xuống tàu thì nghe tiếng kêu “chiếp chiếp” trong khoang hàng. Tôi hỏi: “Ai cho các đồng chí nuôi gà trên tàu?”. Đồng chí Trần Ngọc Ẩn báo cáo, khi tàu qua khu vực quần đảo Trường Sa, một số cán bộ, chiến sĩ lên đảo nắm tình hình và lấy hàng tạ trứng chim xuống tàu. Trứng ăn không hết, để dưới hầm hàng có hơi ẩm nên khi về đến Hải Phòng nhiều trứng đã nở ra chim…

Đại diện Ban liên lạc Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, báo cáo hoạt động với nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đại tá Nguyễn Hữu Tuần ngoài cùng bên phải. Ảnh chụp lại

Kỷ niệm không phai về đồng đội

Có nhiều năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ của các đội tàu, tôi hiểu rõ tính từng người. Anh em “trên bến dưới thuyền” gắn bó với nhau như ruột thịt. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm (Tàu 165) trước lúc lên đường đã mở túi áo lấy chiếc ví bên trong có một ít tiền và tấm ảnh kỷ niệm của gia đình chụp trước ngày anh lên đường tập kết ra Bắc, nhờ tôi giữ để sau chuyến đi về nhận lại. Nhưng chuyến đi ấy anh đã không về. 18 giờ ngày 29-2-1968, Đoàn nhận được điện Tàu 165 báo về “Tàu cách bờ 20 hải lý thì gặp nhiều tàu địch”. Sở chỉ huy liên lạc với bến thì nhận được trả lời: “Đêm 29-2 bến tổ chức đón. Quan sát ra ngoài biển có nhiều vết lửa đạn bắn lên, sau đó nghe một tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao”. Mọi người lúc này mới biết Tàu 165 đã dũng cảm chiến đấu với địch và điểm hỏa phá hủy tàu để giữ bí mật. Chiếc ví của Nguyễn Chánh Tâm đã được tôi gửi lại cho đồng chí cán bộ chính sách của Đoàn, chờ ngày chiến thắng đưa về cho gia đình đồng chí Tâm.

Có lẽ với tôi, cuộc chia tay Nguyễn Phan Vinh sẽ là kỷ niệm không bao giờ quên. Phan Vinh quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, là một thuyền trưởng được đào tạo chính quy, có trình độ chỉ huy và chuyên môn nghiệp vụ rất giỏi. Tháng 12-1968, Phan Vinh trên cương vị là Thuyền trưởng Tàu 235, nhận nhiệm vụ chuyển hàng vào bến Ninh Vân, cách Nha Trang 15km về phía Bắc. Trước đó, Vinh đã đi trên 10 chuyến thành công vào các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh….  Đêm 26-12-1968, tiễn chân Vinh ở Vịnh Hạ Long có tôi và đồng chí Trần Phong. Biết chuyến đi này sẽ vô cùng cam go, chúng tôi trao đổi với nhau cách đối  phó với địch trong những tình huống có thể xảy ra. Trao đổi xong công việc, Phan Vinh tâm sự: “Em sắp đến tuổi tứ tuần, chưa vợ con. Trong cuộc sống đời thường, có nhiều người rất thương yêu em nhưng em không muốn ngỏ lời yêu vì biết nhiệm vụ của mình rất nặng nề, có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Em biết chuyến đi này thực sự khó khăn. Các thủ trưởng đã tin tưởng giao cho em con tàu vận tải mới, hiện đại, em sẽ quyết tâm đưa hàng vào đến bến”.

1 giờ sáng ngày 27-2-1968, chúng tôi chia tay. Tàu Phan Vinh xuất phát sang đảo Hải Nam tìm đường vào bến, tàu chúng tôi trở về Hải Phòng và dõi theo chuyến đi của Vinh. Đến 19 giờ ngày 29-2, chúng tôi nhận được điện Phan Vinh báo về: “Tàu địch đã phát hiện tàu ta còn cách bờ 50 hải lý. Trời rất tối, tôi quyết tâm tránh né địch đưa tàu vào bãi”. 22 giờ, bức điện thứ 2 gửi về có nội dung: “Có nhiều tàu địch từ bờ ra bám theo chúng tôi, chúng càng ra nhiều tôi càng dễ tránh để tiếp tục vào bờ”. Đến 1 giờ ngày 1-3-1968, bức điện thứ 3 và cũng là bức điện cuối cùng được gửi về từ tàu 235. Trên vùng biển Hòn Hèo lúc đó đã diễn ra trận đánh không cân sức. Phan Vinh và một số đồng chí khác hy sinh, 5 đồng chí sống sót là Vũ Long An, Nguyễn Văn Phong, Hà Minh Thật, Lê Duy Mai, Lâm Quang Tuyến, sau 6 tháng đi bộ vượt đường Trường Sơn đã về đến Đoàn và tổ chức viết bản tổng kết trận đánh, làm tài liệu học tập cho cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn.

Suốt 14 năm chi viện cho miền Nam (1961-1975), Đoàn 125 đã thực hiện khẩu hiệu “Quân lệnh như sơn, có lệnh là đi”, thiết lập một con đường huyền thoại không hoa tiêu, không cầu cảng, chỉ có trái tim và niềm tin tất thắng của những con người quả cảm. Những đồng đội của tôi, nay người còn, người mất, nhưng những kỷ niệm về họ, về con đường mà chúng tôi đã cùng gây dựng vẫn còn mãi với thời gian.

Bích Trang (Ghi theo lời kể của Đại tá Nguyễn Hữu Tuần)

Gõ tiếng việt: Off Telex