Bảo đảm vũ khí trang bị trong kháng chiến chống Pháp
Sáng tạo, phù hợp, hiệu quả cao
QĐND - Thứ bảy, 21/11/2009 | 23:18 GMT+7

Trong điều kiện bị bao vây nhiều phía, phải đối đầu với quân đội Pháp hùng mạnh, có vũ khí hiện đại, quân và dân ta đoàn kết, hiệp lực, sáng tạo ra nhiều loại vũ khí có uy lực lớn, tiêu diệt địch hiệu quả, nghiên cứu thiết kế, vận dụng công nghệ chế tạo linh hoạt; khai thác và cải biên, cải tiến vũ khí, khí tài thu được của địch, sử dụng phù hợp với trình độ của bộ đội, LLVT và điều kiện chiến trường nước ta.

Súng cối do Xưởng quân giới TĐ-47 ở Yên Bình, Yên Bái chế tạo năm 1949. Ảnh tư liệu.

Yêu cầu đặt ra, việc nghiên cứu thiết kế, chế tạo các loại vũ khí cần phải có kết cấu đơn giản, dễ sử dụng, dễ bao gói, trọng lượng nhẹ, chế tạo đơn chiếc hoặc hàng loạt, chi phí thấp nhất về lao động và nguyên vật liệu, tốn ít công sức bảo quản, sửa chữa; sử dụng phổ cập các chi tiết và bộ phận lắp ráp có sẵn cũng như các chi tiết và bộ phận đã được tiêu chuẩn hóa. Nhờ vậy, VKTBKT của quân và dân ta nghiên cứu chế tạo trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có tính khả thi và hiệu quả cao, phong phú về kiểu loại, đa dạng kết cấu và phương thức sử dụng, kịp thời phục vụ chiến đấu.

 Trong kháng chiến chống Pháp, vũ khí tự tạo phát triển mạnh mẽ. Ngoài các loại vũ khí thô sơ như kiếm, dao, giáo, mác, cung nỏ, bẫy đá, có loại cải biên từ các dụng cụ sản xuất, bảo vệ sản xuất, còn có nhiều loại vũ khí sử dụng phù hợp trình độ LLVT như mìn, lựu đạn, thủy lôi… Lựu đạn là loại vũ khí được chế tạo phổ biến nhất trong cả nước để trang bị cho bộ đội chủ lực và dân quân, du kích. Nhiều kiểu lựu đạn có nguyên lý tiên tiến như kiểu ở Mỹ Tho, Tân An, sử dụng không phải rút chốt an toàn, chỉ cần ném chạm mục tiêu là nổ; kiểu đốt ngòi ở Trà Vinh, kiểu quẹt như đánh diêm để phát hỏa, kiểu có đuôi khi rơi chúc đầu chạm nổ ở Bến Tre, Thanh Hóa; kiểu rơi đập nổ của Xưởng Phan Đình Phùng. Một số loại lựu đạn thông dụng như lựu đạn mỏ vịt (còn gọi là lựu đạn cần) cải biên từ các kiểu lựu đạn của Pháp, Mỹ, Anh; lựu đạn kiểu đập, cải biên từ kiểu của Nhật Bản và lựu đạn chầy, rút nụ xòe cải biên từ kiểu của Trung Quốc. Các loại lựu đạn này chỉ nặng từ 0,5kg đến 0,7kg, có vỏ đúc bằng gang và khía để tạo mảnh; đều chế tạo từ nguyên liệu dễ kiếm, dễ gia công chế tạo.

  Mìn cũng có nhiều loại tùy theo công dụng như diệt bộ binh, phá xe cơ giới, máy bay, công sự, cầu đường; có hình dạng, trọng lượng khác nhau, nguyên vật liệu chế tạo khác nhau, như được chế tạo từ đạn pháo, đạn cối, bom chưa nổ thu được của địch. Vỏ mìn được làm bằng các vật liệu như kim loại, sành sứ, gỗ, ống tre... Một số nơi còn chế tạo mìn muỗi, mìn nhảy, mìn đạp. Bộ đội Đặc công chế tạo loại mìn lõm FT, có thiết kế đơn giản, dùng lượng nổ ít, nhưng sức công phá lớn để phá tháp canh, lô cốt, một thời được quân Pháp gọi là “vũ khí khủng khiếp của Việt Minh”. Mìn pê-ta dùng 2kg thuốc nổ TNT, ứng dụng nguyên lý hai lần sóng nổ ngược chiều được điều khiển nổ từ xa bằng ngòi điện, từng đánh sập hàng loạt đồn bốt, tháp canh, gây nỗi kinh hoàng cho địch. Thủy lôi của ta chế tạo thường có vỏ bằng tôn, nhồi từ 20kg đến 50kg thuốc nổ, có ngòi giật hoặc ngòi điện hoạt động bằng pin hoặc động cơ điện quay tay, được sử dụng phổ biến trên các địa bàn có nhiều kênh rạch, sông ngòi như ở Nam Bộ. Thời kỳ đầu kháng chiến, thủy lôi của Quân giới Nam Bộ được chế tạo bằng cách cải tiến thủy lôi cỡ lớn thu được của địch.

Trong điều kiện rất khó khăn, các nhà khoa học-kỹ thuật quân đội ta đã thiết kế, chế tạo các loại vũ khí được coi là hiện đại lúc bấy giờ và có hiệu quả sát thương cao, đó là các loại súng không giật SKZ, SS, Ba-dô-ka, có kết cấu dựa theo nguyên lý bảo toàn động lượng. Súng SKZ của các nước, động lượng của đạn bắn ra phía trước được cân bằng với động lượng của khối khí phụt ra phía sau. Còn súng SS của ta, động lượng đó được cân bằng bởi một khối gỗ chắc phóng ra phía sau, nên kết cấu súng đơn giản, tiết kiệm được nhiều thuốc phóng. SS là sản phẩm của Quân giới Nam Bộ dùng thay thế súng Ba-dô-ka. Bằng nỗ lực và sáng tạo đặc biệt, Quân giới Nam Bộ đã chế tạo ra nhiều kiểu súng SS, như SSAF công phá lô cốt kiên cố; SSAT chống tăng; SSAC lắp đầu đạn nổ lõm; SSB để bắn đạn pháo 75mm thu được của Pháp... Các nhà khoa học-kỹ thuật quân sự còn thiết kế, chế tạo súng phóng bom và bom phóng... Quân giới Khu 2 nghiên cứu thiết kế, chế tạo súng và đạn cối 51mm từ thép đường ray xe lửa, sử dụng đạn có kết cấu ngòi đơn giản. Súng cối 51mm có tầm bắn 2.000m, gây mảnh sắc, tán xạ trong phạm vi quy định. Quân giới Nam Bộ chế tạo súng cối 60mm kiểu Brăng của Pháp; nòng súng được chế từ ống giảm xóc máy bay, bắn đạn cối 60mm thu được của Pháp. Trong trận Tân Thới Hiệp (Gò Vấp), lần đầu tiên, cả một tiểu đoàn địch hoảng loạn bỏ chạy vì không ngờ ta có súng bắn cầu vồng (súng cối). Cục Quân giới cũng thiết kế, chế tạo đạn chống tăng AT dùng để gá vào đầu súng trường, bắn bằng khí nén, dùng để chống xe tăng-thiết giáp, xe cơ giới, tàu thuyền, dễ sử dụng, hiệu quả chiến đấu cao.

Nghiên cứu thiết kế, chế tạo VKTBKT trong cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta  thể hiện ý chí tự cường, kết hợp một cách sáng tạo, tài tình các ý tưởng thiết kế vũ khí có trình độ khoa học cao của các nước với điều kiện kinh tế kỹ thuật cực kỳ khó khăn của ta hồi đó để nhanh chóng tạo ra các loại vũ khí, khí tài, phương tiện quân sự thích hợp, hiệu quả chiến đấu cao. Sáng tạo vũ khí kết hợp với sức mạnh của chiến tranh nhân dân rộng khắp đã góp phần to lớn cho cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi và tạo đà phát triển VKTBKT để tiếp tục kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi.  

HOÀNG HỒNG PHƯƠNG

Gõ tiếng việt: Off Telex