Sử dụng pháo binh phá vỡ tuyến phòng thủ cửa ngõ Sài Gòn
QĐND - Thứ bảy, 30/03/2013 | 17:33 GMT+7

QĐND - Sau những thất bại liên tiếp trên các mặt trận Tây Nguyên, Huế-Đà Nẵng và miền Đông Nam Bộ, buộc chính quyền Sài Gòn phải "tử thủ Sài Gòn" để hòng chuyển giao quyền lực trong danh dự. Vì vậy, địch tổ chức tuyến phòng thủ kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là "một mắt xích quan trọng phải quyết giữ", mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn.

Xuân Lộc cách Sài Gòn 80km về phía đông, án ngữ các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A vào Sài Gòn, Quốc lộ 20 nối Sài Gòn với Đà Lạt và Quốc lộ 15 nối Sài Gòn với Bà Rịa-Vũng Tàu. Để quyết giữ Xuân Lộc bằng mọi giá, địch tập trung lực lượng, phương tiện lớn tại đây và tổ chức phòng ngự thành các cụm điểm tựa, có hệ thống công sự vững chắc, bao quanh là các lớp hàng rào dây thép gai xen lẫn mìn.

Bộ đội Quân đoàn 4 tiến công vào thị xã Xuân Lộc. Ảnh tư liệu.

Quyết tâm phá vỡ tuyến phòng thủ Sài Gòn, Bộ chỉ huy Chiến dịch và Bộ chỉ huy Miền sử dụng Quân đoàn 4 có tăng cường một trung đoàn pháo 122mm kết hợp với pháo binh của lực lượng vũ trang địa phương, tiến công và giải phóng Xuân Lộc, tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch, tạo bàn đạp cho các binh đoàn chủ lực vào đột kích, tiến công các mục tiêu đã lựa chọn trong nội thành, giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Có thể nói, hướng Xuân Lộc là một trong hướng tiến công vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ nhất của địch; dài ngày và ác liệt nhất trong các hướng diễn ra trước cửa ngõ Sài Gòn. Trong đó, tính táo bạo, chủ động và linh hoạt là phương châm tác chiến chủ yếu của chiến dịch.

Trong chiến dịch này, ta đã sử dụng pháo binh hợp lý theo 3 cấp chiến dịch, chiến thuật và lực lượng pháo binh đi cùng. Pháo binh cấp chiến dịch, chiến thuật được tổ chức thành các cụm pháo binh để trực tiếp chi viện cho binh chủng hợp thành trên các hướng. Lực lượng pháo binh đi cùng, bao gồm các loại pháo cối trong biên chế, được bố trí thành các phân đội trong đội hình bộ binh, trực tiếp chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu. Tổ chức sử dụng pháo binh như vậy nhằm bảo đảm cho từng cấp có hỏa lực pháo binh để phát huy khả năng chiến đấu độc lập ở từng cấp. Pháo binh đã phát huy được hỏa lực chi viện chung cho những nhiệm vụ chủ yếu, thời cơ quan trọng; đồng thời phối hợp, hỗ trợ, bổ sung chặt chẽ cho nhau trong mọi tình huống, bảo đảm tác chiến liên tục theo một kế hoạch thống nhất, không để rơi vào thế bị động trong mọi tình huống diễn biến của chiến dịch.

Pháo binh được sử dụng tập trung, đúng thời cơ, đạt hiệu quả hỏa lực cao chi viện cho binh chủng hợp thành đánh thắng địch trong các trận đánh then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch. Nguyên tắc tập trung luôn được bộ đội pháo binh vận dụng hết sức linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả, ngoài việc thể hiện ở số, chất lượng pháo binh được huy động, còn tập trung cả về con người, khả năng tổ chức chỉ huy, bảo đảm và thế trận pháo binh cho từng trận đánh quan trọng. Đợt 1 chiến dịch (từ ngày 9-4 đến 11-4-1975), ta đã tập trung tới 45% số pháo hiện có của toàn chiến dịch cho hướng tiến công chủ yếu (tính cả pháo được tăng cường và lực lượng dự bị). Trong giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, chiến dịch đã huy động cả 4 cụm pháo kết hợp với pháo (cối) đi cùng bắn cấp tập vào 12 mục tiêu trong và ngoài thị xã. Trong đó, tập trung 65% hỏa lực pháo tầm xa bắn vào sở chỉ huy Sư đoàn 18, Trung đoàn 5 thiết giáp và 5 trận địa hỏa lực của địch. Với ưu thế vượt trội về lực lượng, lại được chuẩn bị chu đáo về thế trận và cách đánh nên đã tạo ra hỏa lực áp đảo chi viện cho bộ binh, xe tăng tiến công thuận lợi. Tuy nhiên, khi địch tăng quân và sử dụng 2 quả bom CBU-55 ném xuống xã Xuân Vinh, đốt cháy gần như toàn bộ không khí trong vùng ngoại biên Xuân Lộc... gây cho ta nhiều tổn thất, khó khăn, buộc ta phải thay đổi cách đánh.

Cùng với sự điều chỉnh lực lượng theo cách đánh mới của chiến dịch, bộ đội pháo binh đã gấp rút điều chỉnh lại thế đứng chân, tổ chức lại hỏa lực theo cách đánh mới. Trên cơ sở tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại pháo, nhiệm vụ hỏa lực được giao và quyết tâm tác chiến của chiến dịch, bộ đội pháo binh đã triệt để lợi dụng địa hình địa vật, ngày đêm cải tạo địa hình, xây dựng công sự trận địa và ngụy trang kín đáo để lập thế trận pháo binh có lợi, thực hiện đưa pháo vào gần, trong tầm bắn hiệu quả để tăng khả năng sát thương, mức chính xác cho từng loại pháo. Điển hình là Đại đội 26 (Tiểu đoàn 2) đã đưa pháo 130mm vào chiếm lĩnh trận địa tại Hiếu Liêm, tập kích, khống chế sân bay Biên Hòa. Đại đội pháo binh 9 kéo pháo 85mm vào sát Dầu Giây, bằng phương pháp bắn ngắm trực tiếp, đã bất ngờ nổ súng, diệt nhiều sinh lực địch.

Thực hiện cách đánh địch vòng ngoài, cô lập Xuân Lộc, cụm pháo binh 6 đã mãnh liệt tập kích vào cụm điểm tựa ở ngã ba Dầu Giây chi viện cho các sư đoàn thực hành tiêu diệt Chiến đoàn 52 của địch phòng ngự. Đoạn đường số 1 từ Xuân Lộc đến Bàu Cá bị hỏa lực pháo binh ta chặn, cắt; đoạn từ Túc Trưng đến Dầu Giây do ta làm chủ. Cụm pháo binh chiến dịch đã kịp thời chi viện cho lực lượng cơ động đẩy lùi các đợt phản kích của địch từ Trảng Bom lên; trong khi đó, cụm pháo binh 1 cũng kịp thời chi viện cho các sư đoàn bộ binh 7 và 341 đánh thiệt hại nặng hai chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18 địch ở Xuân Lộc. Pháo đi cùng đã luồn sâu đánh hiểm chi viện cho bộ đội địa phương và dân quân, du kích diệt và bức rút một số đồn địch trên các trục đường giao thông và ven thị xã.

Chiến dịch Xuân Lộc thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng trên hướng đông, đông bắc, cùng với thắng lợi của quân và dân ta trên các hướng khác, ta đã đập tan mưu đồ "phòng thủ từ xa" của địch, tạo thế và thời cho 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn thuận lợi.

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CÔN -  Tư lệnh Binh chủng Pháo binh

Gõ tiếng việt: Off Telex