Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (Kỳ 5)
QĐND - Chủ nhật, 11/09/2011 | 18:36 GMT+7

Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: “Biển gọi tôi suốt cuộc đời”

QĐND - Làng biển Nam Sơn (Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) những ngày đầu năm 2011. Từ tinh mơ mờ đất, cha con ông Đồng Xuân Chế đã vác lưới ra biển. Ông đi đến đâu là đánh thức bà con đến đấy bởi giọng nói hào sảng. Đã bước sang tuổi 75 nhưng ông vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Tay ông vẫn thoăn thoắt thả lưới, bắt chẻo, câu mực..., vẫn lăn lộn với sóng gió để mang về cho vợ con miếng cơm manh áo.

Ông bảo: "Biển gọi tôi suốt cuộc đời". Có lẽ thế mà tuổi già đã không ngăn cản được bước chân ông. Các con ông cũng muốn bố nghỉ ngơi nhưng ông thì không muốn. Bởi một ngày không làm việc với ông thật xa xỉ.

Sau một ngày đầu năm đi biển lấy may, ông trở về trong tâm trạng phấn khởi nên vừa gặp chúng tôi, ông đã hồ hởi bắt chuyện.

- 35 năm trước, khi mới rời quân ngũ trở về làng, tôi đã được dân làng tín nhiệm bầu là Chủ nhiệm hợp tác xã liên hiệp nghề cá.

Thuyền trưởng Đồng Xuân Chế. Ảnh Trịnh Dũng.

Thời chiến tranh, quê tôi là túi đạn bom của giặc Mỹ, làng mạc bị tàn phá, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, ngư cụ khai thác cá biển thiếu thốn đủ bề... Trước tình hình đó, tôi đã cùng với chi ủy, chi bộ ra sức động viên nhân dân khắc phục khó khăn đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống. Rồi tôi bàn với anh em bạn hữu động viên dân làng, hãy bám biển mà sống, bỏ biển, bỏ làng là có tội với Đảng và Chính phủ. Nhân dân lắng nghe, họ chủ động đóng thuyền, vá lưới ra biển đánh cá. Chẳng bao lâu, cuộc sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Lúc này, xã có chủ trương cho 30 lao động trong thôn đi học cơ khí và khai thác cá biển để về phục vụ sản xuất. Sau khi chúng tôi đi học về đã trực tiếp hướng dẫn bà con cách đánh bắt, sử dụng ngư lưới cụ và các phương tiên thông tin đi biển. Chúng tôi bắt tay vào đánh bắt, các đoàn tàu đi biển thu về từng khoang cá đầy. Nhân dân phấn khởi, làng biển lúc nào cũng rộn vang tiếng cười.

Ông cho chúng tôi xem những tấm huân huy chương đã nhuốm màu thời gian, nói như khoe: “Đây là những tài sản quý giá nhất của đời tôi. Mỗi lần nhìn nó, tôi thấy đồng đội mình đang ở đó, thấy những cung đường biển đầy sóng và gió mà một thời chúng tôi đã vượt qua”.

Rồi như chạm vào mạch nguồn cảm xúc, ông kể:

… Tháng 9-1970, tôi được điều động về Tàu 54-Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 125 làm thuyền phó 1, nhận lệnh chở 70 tấn vũ khí đi Rạch Gốc (Cà Mau). Chuyến đi này khung cán bộ có anh Hai Đặng là thuyền trưởng, anh Hai Hiệu là Chính trị viên, tôi và anh Chử Thái Bình làm thuyền phó.

Chúng tôi xuất phát tại cảng K35 Hải Phòng. Để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ, tàu đã thẳng hướng sang đảo Hải Nam (Trung Quốc), đi dọc phía Đông quần đảo Trường Sa tiếp giáp Phi-líp-pin. Khi đang ở vùng biển Phi-líp-pin thì cơn bão số 8 xuất hiện, tàu nằm trong tâm bão, một cơn bão mạnh cấp 12. Con tàu nhỏ nhoi oằn mình giữa cơn cuồng phong của biển cả. Hòm đạn súng B41, đạn ĐKZ cố định trên mặt boong đều bị bật tung, liệng đi liệng lại trên mặt boong, 2 bộ phận giảm lắc của tàu bị sóng đánh gãy nên tàu rất tròng trành.

Do bão nên việc xác định vị trí tàu bằng thiên văn không thể tiến hành được, buộc chúng tôi phải dùng phương pháp tính nhích dần để xác định vị trí tàu. Để chống chọi với bão lớn, phần đông cán bộ, chiến sĩ đã ngậm sâm làm việc, qua mấy chục giờ mọi người gần như kiệt sức. Hơn một ngày một đêm chiến đấu vật lộn với bão tố, tưởng chừng có lúc bão đã nhấn chìm con tàu nhỏ bé xuống đáy đại dương. Nhưng cũng do có bão lớn nên kẻ thù đã nới lỏng kiểm soát trên biển, vì vậy chúng tôi đã vượt qua vòng kiểm soát của địch.

Chúng tôi chuyển hướng về phía bến nhưng vì thời tiết quá phức tạp không xác định được vị trí tàu, chúng tôi phải chuyển sang xác định vị trí tàu bằng phương pháp nhích dần. Dự tính 3 giờ sáng thì tàu vào bến, song 4 giờ đến 5 giờ, 6 giờ, tàu vẫn chưa phát hiện được bến. Đến 7 giờ sáng thì tàu phơi lưng ở ven bờ Cà Mau. Tình huống nguy hiểm ngoài dự kiến do người ở bến đón dẫn đường chúng tôi chờ quá thời gian hiệp đồng đã rút đi, tàu nằm chềnh ềnh ở ven bờ, nếu địch phát hiện được thì vô cùng nguy hiểm. Không có người dẫn đường, chúng tôi đã nhanh chóng tự tìm rạch để vào. Đang cơ động vào bến, bỗng có máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu gần đó cất cánh đi tuần ven biển, toàn tàu sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch phát hiện được tàu ta thì đây sẽ là tình huống vô cùng nguy hiểm. Nhưng thật may, địch không phát hiện ra chúng tôi. Hơn một tiếng sau, chúng tôi nhanh chóng đưa tàu vào bến an toàn và tiến hành ngụy trang. Mọi người ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm và phấn khởi vì đã đưa được vũ khí vào tận tay đồng bào, chiến sĩ miền Nam.

Kể đến đây, giọng ông phấn chấn hẳn: Một tuần ở bến bốc xong vũ khí, chúng tôi được lệnh trở về miền Bắc. Tình huống bất ngờ nguy hiểm khác lại đến, đó là vào lúc 19 giờ, tàu được lệnh gỡ ngụy trang, một thuyền máy đuôi tôm B10 của bến chuyển cho chúng tôi một ít hàng. Đang chuyển hàng thì bỗng dưng thuyền máy bị bốc cháy, đạn nổ, tỏa ra một quầng lửa sáng rực. Nghe tiếng đạn nổ và vùng lửa sáng, máy bay địch gần đó đã nhanh chóng cất cánh lùng sục. Lưỡng lự không xử lý nhanh lúc này tàu sẽ trở thành mồi cho đạn bom của giặc. Ban chỉ huy chúng tôi hội ý chớp nhoáng và quyết định cho tàu khẩn trương rời khỏi khu vực nguy hiểm. Nổ máy tăng tốc độ vừa ra khỏi rạch thì máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu bám theo sát chúng tôi, ngoài biển thấy đèn tàu địch thấp thoáng, hình như địch đã phát hiện ra chúng tôi và đang đón lõng để bắt sống hoặc tiêu diệt tàu. Chúng tôi báo động toàn tàu sẵn sàng chiến đấu và khôn khéo cho tàu bám bờ đi theo hướng Ghềnh Hào để lợi dụng tuyến bờ che lấp tránh ra đa của địch phát hiện. Khoảng 1 giờ 30 phút sau, quả nhiên địch bị mất mục tiêu, máy bay không bám theo, ngoài biển cũng không thấy tàu và đèn thấp thoáng nữa, chúng tôi nhanh chóng chuyển hướng cho tàu đi về hướng Đông Đông Bắc, 6 giờ sáng thì ra đến hải phận quốc tế. 7 giờ sáng chúng tôi lại thấy một tàu lạ bám theo cả ngày và sau đó đêm thì một chiếc máy bay thay tàu bám theo. Chúng tôi bình tĩnh tiếp tục hành trình coi như không có gì xảy ra.

Đây thực sự là một chuyến đi đầy khó khăn, gian khổ, tàu đã phải vượt qua bão tố và sự truy cản của kẻ địch để chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Chuyến đi hơn một tháng đã vắt kiệt sức. Tôi và anh Bình thuyền phó phải đi nằm viện chữa bệnh. Sau khi ra viện tôi nhận quyết định của Đoàn điều động về tàu 56 ở Tiểu đoàn 2 nhận nhiệm vụ mới và sau đó đổi số tàu thành 649-Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 125.

Trung tuần tháng 8-1971, Tàu 649 nhận nhiệm vụ chở 70 tấn vũ khí vào chiến trường miền Nam. Trên tàu, ngoài 18 cán bộ, chiến sĩ còn có 3 đồng chí của Đoàn 126 Đặc công. Đầu tháng 11 tàu xuất phát, đi xuyên qua phía Nam đảo Hải Nam để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ đánh lừa Hạm đội 7 của Mỹ, chúng tôi đã lựa chọn cách đi trên các bãi cạn của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong chuyến đi này biển lặng nhưng căng thẳng nhất là phải đi lách trên các bãi đá ngầm Hoàng Sa, Trường Sa nên yêu cầu xác định vị trí tàu bằng thiên văn và lái tàu phải thật chuẩn xác, chỉ cần sơ suất một chút là tàu có thể cưỡi lên đá ngầm. Vượt qua nhiều bãi đá ngầm, bãi cạn san hô và ra khỏi quần đảo Trường Sa, xuống phía Nam tàu lách về phía vùng biển Phi-líp-pin.

Đến cuối tháng 11-1971, vào gần đến nơi theo kế hoạch, ban chỉ huy tàu họp bàn nhận định: Đây là thời cơ tốt cần nhanh chóng cơ động vào bến ngay trong đêm thứ bảy, vì lúc đó địch thường hay mất cảnh giác. Nếu đi theo kế hoạch cũ thì sang tối chủ nhật mới vào bến và thả hàng được. Cấp trên nhất trí theo phương án của chi ủy và chỉ huy tàu. 23 giờ chúng tôi đến vùng biển Thái Lan và chuyển hướng về đảo Cô Công (Cam-pu-chia). Chúng tôi bắt liên lạc thả vũ khí, nhưng bến lại trả lời sai tín hiệu. Thời gian thả hàng đã quá gấp, không thể chờ đợi thêm được nữa. Chúng tôi cử đồng chí Phan Đình Nhu và đồng chí Nhật, cùng 2 đồng chí đặc công người nhái tập kích bắt sống người đánh tín hiệu trả lời của bến. Hóa ra đúng là người của ta. Chúng tôi cấp tốc về bến thả hàng, lúc đó là 0 giờ 10 phút, tàu phân công 9 đồng chí trực chiến đấu, còn lại 9 đồng chí bốc vũ khí từ dưới hầm hàng có độ cao 4m và thả xuống biển. Tàu không thả neo, chúng tôi thả hàng thành 2 đống với tốc độ của tinh thần thần tốc. Chỉ với 9 người và trong 3 giờ 10 phút chúng tôi đã đưa lên mặt boong và thả xuống bến 70 tấn vũ khí, trung bình mỗi đồng chí bốc gần 8 tấn vũ khí. Sau khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trở về, đồng chí Lê Duẩn đã đánh giá: “Đây là sức mạnh diệu kỳ”.

Suốt cuộc đời quân ngũ, ông Chế luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Bản thân ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương và được tặng ảnh Bác Hồ. Giờ đây, cuộc đời ông đã bắt đầu được hưởng những quả ngọt cuối mùa. Ông khoe với tôi: "Cháu à. Bác thông báo một tin vui đây. Ban liên lạc Cựu chiến binh Đoàn tàu Không số tỉnh Thanh Hóa vừa họp và đề nghị Quân chủng Hải quân xây dựng nhà tình nghĩa cho bác đấy. Bác cũng vừa nhận được chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người phục vụ trong quân ngũ trên 15 năm. 

-----------

Kỳ 1: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên

Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên

Kỳ 3: Từ du kích trở thành thuyền trưởng

Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử

Kỳ 6: Nắm đất của Thuyền trưởng Hồ Đức Thạnh

Bài và ảnh: Trịnh Dũng – Thu Hương

Gõ tiếng việt: Off Telex