Khảo sát tỉ lệ và đặc điểm biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường Typ 2
QĐND - Thứ năm, 18/04/2013 | 15:53 GMT+7

Tóm tắt: Khảo sát tỉ lệ, đặc điểm biến chứng thận ở 299 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được khảo sát biến chứng thận dựa vào microalbumin niệu, protein niệu hoặc suy thận mạn tính. Kết quả: tỉ lệ biến chứng thận nói chung gặp ở 41,5%, trong đó microalbumin niệu (+) 22,7%, protein niệu (+) 11,4%, suy thận mạn tính các giai đoạn 7,4%. Tăng huyết áp, thời gian mắc bệnh trên 5 năm, HbA1c > 7% làm gia tăng biến chứng thận.

Abstract: Rate survey, the characteristics of renal complications in 299 patients with type 2 diabetes were surveyed based renal microalbuminuria, proteinuria or chronic renal failure. Results: the rate of renal complications generally found in 41.5% including microalbuminuria (+) 22.7%, proteinuria (+) 11.4%, chronic renal failure stage 7.4%. Hypertension, duration of disease more than 5 years, HbA1c > 7% increase renal complications.

1. Đặt vấn đề.

Tổn thương thận là một trong các biến chứng mạch máu nhỏ, xuất hiện sớm, hay gặp, gây nguy hiểm ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2.

Biến chứng thận do ĐTĐ thể hiện trên lâm sàng với 3 mức độ: microalbumin niệu (MAU), protein niệu, suy thận mạn (STM) các giai đoạn. Sự xuất hiện MAU, protein niệu và STM giai đoạn đầu thường tiềm tàng, nếu không phát hiện kịp thời dễ bị bỏ qua. Việc chẩn đoán biến chứng thận ở BN ĐTĐ typ 2 là rất cần thiết, tạo cơ sở để áp dụng các biện pháp dự phòng, điều trị thích hợp nhằm làm chậm tiến triển dẫn đến STM giai đoạn cuối.

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu khảo sát tỉ lệ và đặc điểm biến chứng thận ở BN ĐTĐ typ 2 và tìm hiểu mối liên quan giữa biến chứng thận với một số đặc điểm, thông số cận lâm sàng khác.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

299 BN ĐTĐ typ 2 được điều trị tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ tháng 10/2012 đến tháng 3/2013.

- Tiêu chuẩn lựa chọn BN:

+ ĐTĐ typ 2 được chẩn đoán dựa vào 1 trong 3 tiêu chuẩn sau: glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l; glucose máu ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol/l; glucose máu giờ thứ 2 nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống ≥ 11,1 mmol/l.

+ Điều trị nội, ngoại trú tại bệnh viện.

+ Chẩn đoán lần đầu hoặc đã được chẩn đoán và điều trị.

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Có các biến chứng nặng như hôn mê, nhiễm khuẩn, đái máu đại thể, mất nước cấp.

+ ĐTĐ typ 1, phụ nữ có thai, thứ phát.

+ Không làm đủ các xét nghiệm, chỉ tiêu nghiên cứu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:

Tiến cứu, mô tả, cắt ngang.

2.2.2. Nội dung nghiên cứu:

- Hỏi bệnh, khám lâm sàng các cơ quan, cân nặng.

- Xét nghiệm: huyết học, sinh hóa máu, nước tiểu.

- Tiêu chuẩn đánh giá, phân loại:

+ Ước lượng mức lọc cầu thận dựa vào công thức Cockcroft - Gault.

+ Bình thường mức bài tiết albumin niệu dưới 30 mg/24 giờ, MAU 30-299 mg/24 giờ, albumin niệu lâm sàng ≥ 300 mg/24 giờ.

+ Tiêu chuẩn hội chứng thận hư: phù to toàn thân, tràn dịch các khoang thanh mạc, protein niệu > 3,5 g/24 giờ, protein máu < 60 g/l, albumin máu < 30 g/l, cholesterol máu > 6,5 mmol/l.

- Phân chia giai đoạn STM theo Nguyễn Văn Xang [1] và phân độ tăng huyết áp (HA) theo JNC-VI [2].

- Xử lý số liệu bằng phần mềm EPI INFO 6.0.

2. Kết quả.

2.1. Đặc điểm BN nghiên cứu:

2.1.1. Đặc điểm giới và tuổi:

299 BN gồm 188 nữ (62,9%) và 111 nam (37,1%), phân bố trong các lứa tuổi sau:

- Dưới 40 tuổi: 12 BN (4,2%).

- Từ 41-50 tuổi: 45 BN (15,2%).

- Từ 51-60 tuổi: 103 BN (34,2%).

- Từ 61-70 tuổi: 94 BN (31,2%).

- Trên 70 tuổi: 45 BN (15,2%).

2.1.2. Thời gian mắc bệnh:

- Dưới 1 năm: 67 BN (22,4%).

- Từ 1-5 năm: 103 BN (34,4%).

- Từ 6-10 năm: 78 BN (26,1%).

- Trên 10 năm: 51 BN (17,1%).

2.2. Tỉ lệ, đặc điểm biến chứng thận:

2.2.1. Tỉ lệ biến chứng thận (n = 299):

- Không tổn thương: 175 BN (58,5%).

- Có tổn thương: 124 BN (41,5%).

2.2.2. Đặc điểm biến chứng thận (n = 124):

- MAU (+): 68 BN (54,8%).

- Protein niệu (+): 34 BN (27,4%), trong đó 10/34 BN (29,4%) có hội chứng thận hư.

- STM: 22 BN (17,7%), trong đó:

+ STM giai đoạn 1: 16 BN (12,9%).

+ STM giai đoạn 2: 4 BN (3,2%).

+ STM giai đoạn 3a: 2 BN (1,6%).

2.3. Mối liên quan giữa biến chứng thận với một số yếu tố:

2.3.1. Mối liên quan giữa biến chứng thận với một số yếu tố:

2.3.2. Chỉ số nguy cơ của một số yếu tố làm gia tăng tổn thương thận:

3. Bàn luận.

3.1. Đặc điểm chung của BN:

ĐTĐ typ 2 thường gặp ở tuổi trung niên và cao tuổi do ở những độ tuổi này thường xuất hiện nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó quan trọng là các yếu tố: dư cân, béo phì, rối loạn lipit máu, tăng HA… BN ĐTĐ typ 2 trong nghiên cứu này chủ yếu ở lứa tuổi 51-70 (65,4%), lứa tuổi trẻ và cao hơn đều gặp tỉ lệ thấp. Số BN có thời gian mắc bệnh từ 1-5 năm chiếm tỉ lệ cao nhất (34,4%), thời gian mắc bệnh dưới 1 năm và 6-10 năm có tỉ lệ tương đương nhau (22,4% và 26,1%), số BN có thời gian mắc bệnh trên 10 năm chiếm tỉ lệ thấp nhất (17,1%). Tuổi càng cao, thời gian mắc bệnh càng dài thì tỉ lệ biến chứng các cơ quan đích nói chung và biến chứng thận nói riêng càng gia tăng.

3.2. Tỉ lệ, đặc điểm biến chứng thận:

Trong số 299 BN ĐTĐ typ 2, chúng tôi gặp 124 BN (41,5%) có biến chứng thận với các thể tổn thương khác nhau, trong đó số BN có MAU (+) chiếm tỉ lệ cao nhất (54,8%). Nếu như tần suất MAU (+) trong cộng đồng nói chung chỉ gặp khoảng 7% thì ở BN ĐTĐ nói chung dao động trong khoảng 16-28%, ở BN ĐTĐ typ 1 sau 5 năm phát hiện bệnh thì tỉ lệ MAU (+) cũng đã vào khoảng 10-20%.

Số BN có protein niệu (+) hoặc STM gặp với tỉ lệ thấp hơn (11,4% và 7,4% tổng số BN nghiên cứu, 27,4% và 17,7% tổng số BN có biến chứng thận). Nghiên cứu UKPDS cho thấy ở BN ĐTĐ typ 2 có albumin niệu (-) thì trung bình cứ mỗi năm lại xuất hiện khoảng 2% trường hợp có MAU (+) và khoảng 2,8% số trường hợp có MAU (+) chuyển sang protein niệu (+). Nếu tại thời điểm bệnh ĐTĐ typ 2 được chẩn đoán thì tỉ lệ MAU (+) đã vào khoảng 7,3%, sau 10 năm tỉ lệ này vào khoảng 20-30%.

Số BN có STM các giai đoạn gặp với tỉ lệ thấp nhất (7,4% tổng số BN nghiên cứu và 17,7% tổng số BN có biến chứng thận). Chúng tôi không gặp BN nào STM giai đoạn 3b và giai đoạn 4 do những BN này đã phải điều trị thường xuyên ở các trung tâm lọc máu. Hiện nay, ở Mỹ trong số BN phải nhập viện điều trị STM giai đoạn cuối thì nguyên nhân do ĐTĐ đứng hàng đầu và chiếm tới 44%; ở Singapore, ĐTĐ cũng là nguyên nhân hàng đầu gây STM, chiếm tới gần 50% số BN STM giai đoạn cuối.

3.3. Mối liên quan giữa biến chứng thận với một số chỉ số cận lâm sàng:

Sự kết hợp một số yếu tố nguy cơ, thời gian mắc bệnh, mức kiểm soát các chỉ số (trong đó quan trọng nhất là HbA1c) có liên quan, ảnh hưởng đến tỉ lệ, đặc điểm biến chứng thận ở BN ĐTĐ typ 2. Khi tìm hiểu mối liên quan giữa biến chứng thận với một số yếu tố nguy cơ, chúng tôi nhận thấy: sự kết hợp với bệnh tăng HA, thời gian mắc bệnh trên 5 năm làm gia tăng có ý nghĩa tỉ lệ biến chứng thận (p < 0,001); tuổi ≥ 60, mức kiểm soát HbA1c > 7% cũng làm gia tăng tỉ lệ biến chứng thận có ý nghĩa (p < 0,05). Những mối liên quan trên đây trong nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả khác. Tuy vậy, khi phân tích mối liên quan dựa vào tỉ suất chênh, chúng tôi lại thấy có sự khác biệt, trong đó tăng HA, thời gian mắc bệnh trên 5 năm, HbA1c > 7% đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,01), tuổi ≥ 60 lại không có ý nghĩa thống kê. Kết hợp hai phương pháp phân tích cho thấy: tăng HA, thời gian mắc bệnh trên 5 năm, HbA1c > 7% làm gia tăng có ý nghĩa biến chứng thận ở BN ĐTĐ typ 2.

4. Kết luận.

Khảo sát tỉ lệ, đặc điểm biến chứng thận ở 299 BN ĐTĐ typ 2, chúng tôi rút ra kết luận:

- Tỉ lệ biến chứng thận nói chung chiếm 41,5%, trong đó 22,7% có MAU (+), 11,4% có protein niệu (+) và 7,4% bị STM các giai đoạn. Trong số BN có protein niệu (+), 29,4% có biểu hiện hội chứng thận hư.

- STM ở ĐTĐ typ 2 chỉ gặp 3 giai đoạn 1, 2 và 3a với tỉ lệ lần lượt là 12,9%, 3,2% và 1,6% so với số BN có biến chứng thận.

- Tăng HA, thời gian mắc bệnh trên 5 năm, HbA1c > 7% làm gia tăng có ý nghĩa biến chứng thận.

- Chỉ số nguy cơ (OR) gây biến chứng thận có ý nghĩa thống kê bao gồm: tăng HA (4,62%), thời gian mắc bệnh trên 5 năm (3,58%) và HbA1c > 7% (2,34%).

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Văn Xang (2004), “Phân loại mức độ suy thận mạn tính và chỉ định điều trị”, Bệnh thận nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

2. Joint National Committee (1997), “The 6th report of the Joint National Committee on Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Pressure (JNC-VI)”, Arch Intern Med.

3. Mac Isaac R.J, Watts G.F (2005), “Diabetes and the kidney”, Diabetes Chronic Complication, 2nd ed., 21-48.

4. Silkensen J.R, Agarwal A (2005), “Diabetic nephropathy”, Handbook of nephrology and hypertension, 5th ed., 43-49.

5. Mogensen C.E (1999), “Microalbuminuria, blood pressure and diabetes renal disease, origin and development of ideas”, Diabetologia, 42: 263-285.

6. Kasiske B.L et al (1995), “Laboratory Assessment of Renal Disease: clearance, urinelysis and renal biopsy”, The kidney, 5th edition by Brenner BN, 26: 1137-74.

TS. NGUYỄN THU HƯƠNG - BVĐK Trung ương Thái Nguyên

TS. NGUYỄN TIẾN DŨNG - Trường ĐH Y Dược Thái Nguyên

Phản biện khoa học: PGS.TS. HOÀNG TRUNG VINH

Gõ tiếng việt: Off Telex