Kỳ tích Cheo Reo
QĐND - Thứ sáu, 30/04/2010 | 21:27 GMT+7

Cheo Reo và con đường 7 cách đây 35 năm đầy bom đạn và những cuộc chiến khốc liệt, làng bản điêu tàn… Nay là Quốc lộ 25 rộng mở, những buôn làng trù phú, những thị trấn, thị tứ sầm uất nối tiếp mọc lên giữa màu xanh bạt ngàn của lúa, mì, bắp.

Bản anh hùng ca đường 7

Sinh ra, lớn lên rồi trực tiếp cầm súng chiến đấu trên quê hương của mình, hơn ai hết, Thiếu tướng Anh hùng LLVT nhân dân Rơ Ô Cheo – Phó tư lệnh Quân khu 5, hiện đang là Chỉ huy Tiền phương của quân khu, hiểu được nỗi lòng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên “lúc nào cũng hướng về Đảng, Bác Hồ như rừng cây hướng về ánh sáng mặt trời vậy…”. Ông chậm rãi kể lại câu chuyện về bản thân mình, dân làng mình trong những năm tháng bám trụ kiên cường, tham gia giải phóng quê hương trong những ngày tháng Tư lịch sử 35 năm trước.

Quốc lộ 25 được nâng cấp.

Trước tháng 4-1975, vùng đất Cheo Reo (thị xã A Yun Pa bây giờ) rừng núi bạt ngàn, dân cư thưa thớt, ở các buôn làng chỉ còn lại một vài gia đình. Phần lớn bà con đi theo kháng chiến; chỉ có số ít chưa kịp lên núi, bị địch dồn vào ấp chiến lược. Thanh niên ở các buôn làng tự nguyện vào bộ đội, du kích, ngày đêm được huấn luyện cách đánh đồn bốt, gài mìn, đơm chông, ném lựu đạn… Hết mùa huấn luyện, anh em lại tỏa về làng làm công tác “vận động quần chúng” và “địch vận” theo cách mạng. Vào những ngày đầu tháng 3-1975, đã có 20 binh sĩ ngụy ở đồn Klóa (Chư Ngọc) mang theo vũ khí ra hàng cách mạng.

Đường 7 (từ Gia Lai về Phú Yên) được xác định là tuyến giao thông quan trọng, trong đó cầu và đồn Klóa là những vị trí chiến lược trong thế trận tập kích địch hành quân hoặc rút chạy. Sau khi lấy lời khai của những hàng binh, đại đội 303 (tỉnh đội Đắc Lắc) cùng huyện đội H2 (Cơ quan quân sự huyện Krông Pa – Gia Lai) đã phối hợp tấn công đánh địch ở đồn và cầu Klóa trên đường 7 (Quốc lộ 25 ngày nay). Sau hai ngày đêm anh dũng chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt phản công của địch, đồn Klóa, “chiếc đinh” găm trên đường 7 đã bị nhổ bỏ. Chiến thắng này đã củng cố niềm tin cho bà con trong vùng kháng chiến, nhiều người mừng vui kéo nhau về lại làng bản, cùng với bộ đội củng cố hậu phương, chuẩn bị cho những trận đánh lớn.

Buôn Ma Thuột thất thủ, Nguyễn Văn Thiệu tuyệt vọng ra lệnh cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân đoàn 2 nguỵ rút quân về đồng bằng để “bảo tồn lực lượng”. Đường 7 là con đường gần nhất để tháo lui, bởi lúc đó tuyến Quốc lộ 19 xuôi về Bình Định, đã có mấy đoạn đã bị lực lượng ta chiếm giữ. 

Thu hoạch cá ở Ayun Hạ.

Ngày 18-3-1975, hơn 15 nghìn tên địch thuộc Quân đoàn 2 ngụy từ Ngọc Hồi, Sa Thầy, Đắc Tô, Tân Cảnh… của tỉnh Kon Tum và các vị trí chốt giữ ở Plei-cu – Gia Lai, đã theo đường 7 rút về Phú Yên. Kiên quyết không để cho địch chạy thoát, Sư đoàn 320, Trung đoàn 95 (Binh đoàn Tây Nguyên) và bộ đội địa phương của ta, dựa vào địa hình đã chặn đánh địch ở A Yun Pa, Phú Túc... Đoạn đường từ cầu sông Bờ đến cầu cây Sung và đèo Tô Na chưa đầy 4km, giữa hai cây cầu là vị trí phục kích của Sư đoàn 320. Hàng trăm xe tăng, xe vận tải… bị bắn cháy và bỏ lại ngổn ngang. Hàng nghìn tên địch bị tiêu diệt và bắt sống… Cuộc tháo chạy về Phú Yên của địch bị ngăn chặn. Vậy là địch mất đi một lực lượng lớn hòng chặn đường tiến của quân ta vào Sài Gòn. Cheo Reo, Phú Túc… là những địa danh trở thành nỗi khiếp sợ của tàn binh địch.

Trong trận này, Thiếu tướng Rơ Ô Cheo (lúc đó là Trung đội trưởng – thuộc Tiểu đoàn 303) đã bắn cháy một chiếc xe tăng và tiêu diệt hơn 10 tên địch. Đặc biệt tại trận này, đã xuất hiện gương chiến đấu anh dũng của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Hợi - một mình bắn cháy 7 xe tăng địch, góp phần viết nên bản anh hùng ca đường 7, đi vào lịch sử với những trang oanh liệt, vẻ vang nhất, góp phần mở đường từ Tây Nguyên cho quân và dân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, thống nhất Tổ quốc.

Màu xanh trên vùng đất chết

Trở lại đường 7, trở lại Cheo Reo năm xưa, dấu tích chiến tranh giờ đã bị thời gian xóa nhòa, thay vào đó là một màu xanh tươi tốt của cây trái.

Xuống đèo Chư Sê, ngút ngàn tầm mắt là những cánh đồng lúa trĩu bông. Cách đây gần 30 năm, tôi đã đến A Yun Pa, nghe hai từ “tỉnh lỵ” Phú Bổn, thì cứ ngỡ đó là phố phường bề thế lắm, hóa ra lại thua xa một cái thị tứ ở đồng bằng. Những con đường chật hẹp lở lói, cây gai mọc đầy; những căn nhà ống sùm sụp chen nhau như đổ từ một khuôn.

Lúc đó, cánh đồng Ayun Hạ là một vùng hoang vu ... Còn ngày nay, một biển lúa vàng rực. Khói đốt đồng từng đụn lơ lửng dưới vòm trời xanh ngắt. Đậm đặc trong khứu giác là mùi bùn, mùi rạ rơm nồng ấm. Cái mùi ấy gặp lại chợt ngỡ mình như đang ở đồng bằng… Công trình đại thủy nông Ayun Hạ đã cho cao nguyên một vựa lúa 6.770ha hai vụ (không kể phần thuộc huyện Ia Pa). Nếu tính bình quân, mỗi héc-ta lúa lãi khoảng 10 triệu đồng/vụ thì mỗi năm cánh đồng này đã làm ra một sản lượng lúa hàng hóa trị giá hơn 135 tỷ đồng. Công trình thủy lợi Ayun Hạ trở thành một cây gậy có phép lạ xua đi cái đói ngàn đời từng đè nặng lên cuộc sống đồng bào các dân tộc… Hạt lúa đã tạo ra kỳ tích trên cánh đồng Ayun Hạ. Ông Rơ Mah Ét, Chủ tịch UBND thị trấn Phú Thiện, khẳng định: “Không riêng gì làng mình, khắp các buôn làng ở thung lũng Ayun Hạ này đều có xe công nông, máy xới đất. Những hộ khá giả mùa về có trên vài trăm bao lúa… Hạt lúa là cuộc sống no ấm của bà con mình!...”.

Trên cánh đồng Ayun Hạ hôm nay.

Dọc theo đường 7, ở vùng “đất khát” Krông Pa, ngoài trồng trọt thì chăn nuôi luôn là một thế mạnh. Không giấu được niềm vui, ông Ksor Suông, Trưởng buôn Sai, tiếp chúng tôi trong một căn nhà mới xây khá đẹp, cho biết: “Buôn Sai có 272 hộ, 1.284 khẩu, có 300ha lúa, 250ha mì, nếu được mùa, được giá, mỗi héc-ta thu lời từ 10 đến 15 triệu đồng, nhà nào cũng có tiền”.  Ông Rơ Ô Mul - một nông dân sản xuất giỏi của buôn Sai nói: “Tài sản lớn của buôn là 2.000 con bò. Nhà ít có dăm ba con, nhà nhiều có đến năm sáu chục con. Cả buôn Sai có chừng 50 hộ, thu nhập mỗi năm dăm bảy chục triệu đồng nhờ nuôi bò”. Chăn nuôi bò không chỉ là thế mạnh của buôn Sai mà là của cả huyện Krông Pa.

Chúng tôi đến buôn Kte xã Ia Deng, những căn nhà tôn bề thế chói lòa  ánh nắng. Tiếng xe công nông chở lúa, tiếng máy xay xát đan nhau ồn ã như một thị trấn nhỏ. Ông Đinh Nhiêu – Bí thư Đảng ủy xã ngồi tiếp chúng tôi bên ghè rượu đã châm nước sẵn và một đĩa cá chép vàng ươm. Ông nói: “Mọi thứ đều là của nhà cả. Các anh thấy đấy, cuộc sống bây giờ sướng quá. Muốn cá có cá, muốn cơm có cơm; người nông dân bây giờ đâu còn phải lo cái ăn nữa”. Tôi ngồi ngắm Đinh Nhiêu. Khuôn mặt sạm đen nắng gió của ông toát ra một vẻ cương nghị khiến người ta nghĩ đến sự qua lửa của một gốc le già. Ông vít cần rượu, rồi nhẩn nha: “Tôi là người Ba Na, quê ở buôn Kliết A (Ia Pa), có mười mấy năm làm lính pháo rồi chuyển ngành. Quê vợ ở đây nên huyện cử tôi về tăng cường luôn...”. Đinh Nhiêu vít cần rượu “uống Phép” một ngụm rồi xoay cần sang cho chúng tôi, rủ rỉ: “Hồi ấy buôn Kte ở tận trong rừng kia. Chưa bao giờ đặt chân đến làng của vợ, tôi không ngờ nó lại buồn thảm đến thế, những căn nhà tôn gỉ rét, xo xụi bên những mái nhà tranh xác xơ. Năm ấy lại mất mùa, cả xã, cả làng ai cũng vật vờ như bị con ma ám. Thấy bà con cứ đeo đẳng cây lúa rẫy thì  sẽ còn đói mãi, tôi xuống Bình Định tìm anh em ở đơn vị cũ học cách làm lúa nước rồi trở về lụi hụi tính bình đồi làm hệ thống mương… Mọi việc đâu vào đó rồi, tôi họp dân triển khai. Cứ ngỡ người ta sẽ nhảy lên ôm lấy tôi mà hoan hô, nào ngờ tiếng la ó ập xuống đầu tôi như mưa trút. Tôi phải làm giấy cam đoan rồi mời già làng làm chứng, nếu mỗi sào không được 18 bao thì tôi sẽ bán hết tài sản rồi thắt cổ chết trước mặt dân làng. Thề độc vậy mà dân làng vẫn chưa tin, cứ không thấy tôi trên đồng, là chẳng có ai đi làm. Mỗi ngày tôi nướng hai trái bắp khô ăn để  nằm chực tại đồng, hai con mắt trũng sâu như hai ống lồ ô. Vợ tôi ra thăm thấy thế chỉ biết bưng mặt khóc… Cuối vụ năm đó không chỉ thu 18 bao mỗi sào như tôi cam đoan mà những 22 bao. Bấy giờ thì dân làng mới chịu tin Yang H’ri (thần lúa) xuống nước không những không chết đuối mà lại còn sống khỏe hơn…”.

Ngày nay, cánh đồng Ayun Hạ, đèo Tô Na, Bến Mộng, thung lũng Hồng và Suối Đá… của vùng đất A Yun Pa không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn là những điểm du lịch lý tưởng, níu chân du khách gần xa… Và còn nhiều, rất nhiều những kỳ tích nữa sẽ trở thành hiện thực, khi A Yun Pa có một tiềm năng còn lớn hơn tất cả mọi tiềm năng – đó là những con người dám sống, dám cháy hết mình cho làng bản hôm qua, hôm nay và cả mai sau...

Bài và ảnh: Lê Quang Hồi

Gõ tiếng việt: Off Telex