Mùa cao su trong mưa
QĐND - Thứ năm, 19/01/2012 | 22:31 GMT+7

QĐND - Gia Lai đón tôi bằng một cơn mưa suốt gần một giờ. Đó cũng là thời gian tôi ngồi trên ban công Nhà khách Binh đoàn 15 tự pha cho mình một ly cà phê Tây Nguyên với sữa đặc Mộc Châu. Được thưởng thức cái tinh túy của hai thảo nguyên hòa quyện trong một ly cà phê thơm ngậy là dịp may không phải khi nào cũng có. Tôi nhâm nhi ly cà phê như uống nước trường sinh và ngắm mưa đổ trắng trên nóc phố...

Nhớ 26 năm trước. Mưa gội trên những gương mặt lính hốc hác vì lao động đến kiệt sức. Ngày đó, Binh đoàn mới thành lập, hàng chục vạn binh sĩ vừa đi qua cuộc kháng chiến, nhiều người chưa kịp dừng nghỉ đã vội dàn quân ra Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, vùng bãi ngập mặn Đông Bắc, núi rừng Tây Bắc và Tây Nguyên… để nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế. Hai mươi tiểu đoàn bộ binh lên Gia Lai, Kon Tum nhận trang bị dao quắm, cuốc, xẻng, hợp lại thành một binh đoàn, lính gọi vui, “Binh đoàn dao quắm” để mở đất. Binh đoàn dao quắm của Tư lệnh Trần Kiên lúc bấy giờ bừng bừng khí thế, đánh thức cả một vùng cao nguyên vừa mới hôm qua còn là bãi chiến trường. Không ít ngày phát rẫy, mở đất lưỡi cuốc chạm vào tiếng nổ của bom mìn còn nằm dưới cỏ.

Ngày đó, do cả nước phải ăn bo bo nhập khẩu, lính trẻ làm kinh tế có mơ ước thật hồn nhiên và táo bạo, đem cây lúa nước của đồng bằng châu thổ lên những thửa ruộng đất ba-dan “treo” trên độ cao trung bình 800m so với mặt biển. Tôi nhớ mãi hình ảnh anh Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nguyễn Đăng Hiếu người quắt queo, mặt mũi y như thơ của Trần Mai Ninh “dẹt một đường gươm”, đen đúa vì dầm mưa suốt mấy tháng để mở đất, be bờ, rồi cày cấy giờ đứng như trời trồng giữa mảnh ruộng lúa vừa lên xanh thì hết mưa, sang mùa khô, cạn héo, ngả màu vàng úa mà không có cách nào cứu được, chỉ còn biết ngửa mặt lên trời xanh mà kêu, trời hại những thằng lính chúng con rồi… Trời nào có hại. Vụ lúa trắng tay vì người nôn nóng làm giàu mà chưa hiểu đất bazan đã chọn cây chưa hợp với đất đó thôi.

Một góc vườn cao su thuộc Đội 711, Công ty 72, Binh đoàn 15 (tháng 12-2011). Ảnh: Nhật Huy.

Tôi không rõ bài ca Một rừng cây, một đời người ra đời nơi nào, nhưng nếu ai bảo, ca khúc này mọc lên từ rừng cao su, tôi tin. Phải là một đời người vật lộn với đất, với cây, vùng đỉnh cao nguyên khô cằn này mới hóa rừng vàng. Đại tá Đỗ Văn Sang, Giám đốc Công ty 75 từng nói với tôi, có những năm ra rừng nhìn cây cao su, cà phê tưởng như nó cũng oằn xuống như người trồng cây để cùng người gánh nợ. Đó là thời kỳ người trồng cao su, cà phê không có cách nào khai thông được nguồn vốn của ngân hàng đầu tư bởi các quy định cứng nhắc. Ấy là chưa kể thị trường tiêu thụ sản phẩm cao su, cà phê dăm bảy năm về trước thất thường như mưa nắng Tây Nguyên vậy. Có khi một ki-lô-gam cà phê nhân bán tại công ty giá chỉ bằng uống một cốc cà phê đá vỉa hè thành phố. Mấy năm nay cao su và cà phê được mùa, nhưng “ngày xưa” của Binh đoàn vẫn nặng trong lòng những người chủ rừng cao su hôm nay. Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân, Anh hùng Lao động Nguyễn Xuân Sang, Tư lệnh Binh đoàn ví von, có lúc, ông nói, số mủ cao su chỉ bằng số mồ hôi của người lao động đã đổ ra để trồng 30.000ha cao su và 1000ha cà phê mùa đầu.

Đăk Vang là điển hình của sự hồi sinh vì cao su. Buôn Đăk Vang có tới 4 dân tộc: Ca Dong, Giẻ Triêng, Mông và Ba Na cùng sinh sống. 4 nhóm người này vốn du cư dọc triền biên giới Việt - Lào, sống nhờ vào săn bắt, hái lượm và những mảnh lúa nương nhỏ bé như những miếng vá vụng trên sườn núi. Đến ngày Công ty 732 của quân đội bước từ ruộng lúa nước lên đồi, mở mang những cánh rừng cao su và cà phê, anh em lùng rừng đón bà con du cư về định cư, tổ chức thành một đội sản xuất. Những người hôm qua chỉ biết kiếm sống bằng chiếm đoạt của rừng, hôm nay thành công nhân của công ty trồng và chăm sóc cao su, được trả lương từ 3 đến 4 triệu đồng/tháng là cuộc đổi đời như bước từ đêm sang ngày. Có lương, lại được hỗ trợ làm nhà theo phong cách nhà truyền thống của dân tộc, con cháu được học hành, buôn Đăk Vang trở thành một tụ điểm văn hóa đa sắc tộc. Đêm đêm trong khu ở của người Ba Na âm vang tiếng cồng chiêng tụ tập lũ làng đến nhà già làng uống chung ché rượu, nghe kể khan về Đăm Đi, Kinh Dú. Nhiều tập tục bị rơi vãi dọc con đường du cư bất định trong rừng bây giờ được phục hồi làm gương mặt người cũng sáng bừng. Đăk Vang bây giờ là “mỏ” gái đẹp, lính kháo nhau vậy.

Phên giậu là rừng cây công nghiệp và người trồng cây đồng thời là người canh giữ biên cương. Ý tưởng này của những người lính làm kinh tế và Bộ đội Biên phòng hợp lòng dân, vì thế những cánh rừng cao su tiểu điền phát triển nhanh dọc triền biên giới hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia.

Tôi thả bộ trong rừng cao su ở IaPnon, giáp biên thỉnh thoảng dừng lại với những người chủ rừng hầu hết là trẻ và vui tính. Họ kể cho tôi câu chuyện về một đám cưới mới rồi, nhà trai thách cưới nhà gái hẳn một chiếc máy cày. Bên gái quả là mấy núi cũng trèo, lái hẳn chiếc công nông mới cứng, sơn màu đỏ chói đến nhà trai dâng lễ, bắt bằng được chồng về ở rể. Phong tục mẫu hệ còn tồn tại ở đây, chàng rể được cưới về là cái bóng của vợ suốt đời. Nàng lái máy cày đến mới biết, nhà trai không tham của, chỉ nhận lễ, rồi cho nhà gái cả rể, cả máy cày, để cô gái đưa chàng trai lên xe, lái vợ về. Đám cưới vui như Tết, mổ lợn, mổ bò khao cả làng. Cao su đang làm cho các buôn làng trở nên phú quý mà sinh lễ nghĩa.

Thiếu tá Đồn trưởng Quản Văn Tuyến nói với chúng tôi, chỉ một hai năm nữa cả vùng giáp biên nơi đơn vị anh quản lý là rừng cao su dài 10km. Nhà nước đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật cho dân trồng cao su, dân chăm sóc cao su, dân thu hoạch, đồng thời dân cũng là tai mắt của biên giới. Trận địa lòng dân ở đây là vậy, nhưng phải mạnh về kinh tế mới vững ở thế đứng chân.

Đã lâu lắm tôi mới lại được ăn bữa cơm măng luộc ở giữa rừng khộp mưa tầm tã. Căn bếp của Đồn Biên phòng 725 lợp tạm bằng mấy mảnh tôn rung lên bần bật và rầm rầm vì nước giội, phải nói như quát vào tai nhau mới nghe thấy. Người trồng cao su, cà phê đang giàu lên, nhưng lính biên phòng giữ cho những buôn làng trồng cao su bình yên thì còn nghèo, rất nghèo. Giường ngủ của chiến sĩ Nam, quê Ninh Bình làm bằng gỗ, dài 1,8m, còn mới, nhưng chiếu đã cũ, quăn bốn góc, lại ngắn cũn cỡn, chỉ chừng 1,5m, kéo lên đầu thì hở chân, kéo chân hở phần đầu. Không có gối. Nhà bếp cũng đơn sơ như nơi ngủ của lính. Của riêng cho mỗi chiến sĩ chỉ chiếc bát, đôi đũa còn của chung là vài chiếc nồi méo mó và ba chiếc thìa đã vẹt. Đêm nay, sau cả một tuần lặn lội theo những con đường tuần tra dọc biên, và những cánh rừng cao su, chúng tôi ngủ lại ở Đồn Biên phòng Bu Trác, cách Cửa khẩu Bu Prăng một tiếng hú. Lại một đêm mưa Tây Nguyên. Anh em cán bộ, chiến sĩ nhường giường chiếu và chăn bông cho chúng tôi rồi họ đi ngủ ở đâu thì không biết. Tôi hỏi Thiếu tá Rơ Ngân, Chính trị viên Đồn Biên phòng, đêm qua anh em ngủ ở đâu? Anh chỉ cười. Mãi cho đến lúc chia tay, thấy anh em vẫn vắng mặt, tôi mới biết, những anh lính đêm qua nhường giường chiếu một số ngủ chung, một số xuống buôn “ba cùng” với bà con buôn trồng cao su, còn một số ngủ trong rừng…

Mùa mưa Tây Nguyên thật nhiều lo toan, chứ đâu chỉ là mùa bận rộn của những người trồng và thu hoạch mủ cao su.

Xuân mới đã gõ cửa. Ở Hà Nội tôi cứ băn khoăn nghĩ năm nay các anh Bộ đội Biên phòng có bao nhiêu người được về ăn Tết với mẹ. Như mọi năm thì hầu hết về trước hoặc về sau.

Ký của Hà Đình Cẩn

Gõ tiếng việt: Off Telex