Địa linh nhân kiệt
Mái nhà của Đông Dương
QĐND - Thứ năm, 27/03/2008 | 21:39 GMT+7

Sau khi hoàn thành cơ bản cuộc chiến tranh xâm chiếm Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, năm 1889 thực dân Pháp sáp nhập ba nước lại thành Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Phát hiện ra Tây Nguyên của Việt Nam là một địa bàn chiến lược quân sự quan trọng, các chiến lược gia quân sự thực dân gọi đây là “Mái nhà của Đông Dương” và khẳng định: “Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”.

Tây Nguyên là địa danh chỉ miền núi và cao nguyên phía tây Trung Bộ chạy dài từ vĩ tuyến 15 xuống đến vĩ tuyến 11 rộng 67.000km vuông, gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Trên đất Tây Nguyên có hơn 30 dân tộc anh em cùng sinh sống. Đồng bào Tây Nguyên có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm.

Địa hình Tây Nguyên được hình thành bởi 5 cao nguyên nối tiếp nhau từ bắc vào nam. Phía bắc là cao nguyên Kon Tum, độ cao trung bình 1.000m với các dãy núi cao trùng điệp, có các đỉnh như Ngọc Linh 2.548m, Ngọc Ni-ay 2.259 m, Ngọc Krinh 2.025m và thấp dần tới bắc tỉnh Gia Lai. Nơi này chỉ có một số dãy núi cao trên dưới 1.500m.

Tiếp đến là cao nguyên Đắc Lắc có độ cao thấp hơn, trung bình dưới 1.000m, địa hình tương đối bằng phẳng, không có ngọn núi cao nào đáng kể. Phần bình nguyên ở phía nam cao nguyên này là thị xã Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắc Lắc. Địa hình từ Buôn Ma Thuột về phía Nam lại cao dần lên. Tiếp giáp với cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Lâm Viên và sau đó là cao nguyên Di Linh ở độ cao trung bình 1.500m với các dãy núi cao có đỉnh như Chư Yang Sơn 2.405m, Chư Yên Du 2.075m. Tỉnh Lâm Đồng với thủ phủ là Đà Lạt bao gồm hai cao nguyên này.

Tiếp giáp với cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Mơ Nông có độ cao thấp, trung bình 1.000m, thuộc tỉnh Đắc Nông. Trên các cao nguyên thường có rừng thưa, phần lớn là rừng Khộp xen lẫn rừng Le, có các bãi trống (có bãi rộng đến 1km2). Càng về phía nam, phần giữa Tây Nguyên, đất tương đối bằng phẳng, song lại có nhiều hồ nước rộng và sâu như ở khu vực Phước An, Lai Thiện và biển hồ Plây-cu. Tây Nguyên có nhiều sông và suối lớn phát nguyên từ các dãy núi cao, nhưng đáng kể là 3 sông chính: Sê San (Pô Cô), Sê-rê-pốc và sông Ba.

Tây Nguyên sớm có một mạng lưới giao thông ngang dọc: quốc lộ 14 chạy từ Huế qua Kon Tum, Plây-cu, Buôn Ma Thuột nối liền với đường số 13, ở ngã ba Chơn Thành ra Quốc lộ 1 vào đến Sài Gòn. Quốc lộ 19 chạy từ Quy Nhơn đến biên giới giáp với Cam-pu-chia. Quốc lộ 21 chạy từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hòa, Khánh Hòa. Liên tỉnh lộ số 7 từ Plây-cu đi Tuy Hòa, phú Yên. Tây Nguyên còn có các đường liên tỉnh, giưã các huyện về các xã; ngoài ra, nơi đây trong cuộc chống Mỹ, cứu nước đã hình thành thêm một hành lang đường quân sự chiến lược: trục đường 1B (đường Trường Sơn) nối liền từ bắc chạy dọc theo phía tây của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng vào phía nam, vào tới Lộc Ninh (Nam Bộ); một số đường nhánh nối với Quốc lộ số 14 và các đường xuyên rừng nằm trên phần đất phía tây các tỉnh ở cao nguyên.

Tây Nguyên có thế rất cao so với các khu vực tiếp giáp với nó. Từ trên thế cao này của Tây Nguyên có thể khống chế toàn bộ các khu vực cao xung quanh- là thế quân sự vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, Tây Nguyên có thế rộng lớn cả bề rộng lẫn chiều sâu và sự kín đáo; lại có thế dài liên tục, từng khu vực địa hình có giá trị được rừng núi bao quanh, nhưng lại nối tiếp nhau, khu vực này có thể hỗ trợ cho khu vực kia tạo nên một thế liên hoàn vững chắc. Tây Nguyên vừa có rừng núi, vừa có cao nguyên nên dung lượng chiến trường lớn, thuận lợi cho tác chiến hợp đồng quân binh chủng.

Chiến dịch An Khê là một trong số những chiến dịch nổi bật trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên chiến trường Tây Nguyên. Quân và dân Liên khu 5 đã mở chiến dịch này ở khu vực An Khê, đường 19 nhằm tiêu dệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ. Lực lượng ta gần 2 trung đoàn (108 và 803), tiểu đoàn 40 bộ đội chủ lực Liên khu và Trung đoàn 120 bộ đội địa phương tỉnh Bình Định. Để bảo vệ An Khê, địch thiết lập một hệ thống cứ điểm vòng ngoài (Con Lía, Tú Thông, Cửu An, Thượng An, Eo Gió), mỗi nơi có một đại đội chiếm giữ, có công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, được pháo binh ở An Khê chi viện. 1giờ ngày 13-1-1953, quân ta nổ súng đồng loạt diệt các cứ điểm ở Cửu An, Tú Thủy, Eo Gió, buộc địch ở Con Lía phải rút chạy. Ngày 17-1, Pháp định đưa 1 tiểu đoàn từ An Khê tới phản kích hòng chiếm lại Cửu An, bị ta phục kích diệt một bộ phận. Ngày 21-1, ta bất ngờ nổ súng chiếm Thượng An và Plây-cu, An Khê, diệt 3 đại đội. Kết quả, loại khỏi vòng chiến đấu gần 900 địch, bắt 300 địch, thu nhiều vũ khí, trang bị.

Sau 29 ngày đêm chiến dịch, ta diệt và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 28.000 tên địch, thu và phá hủy 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng các loại; giải phóng 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và một số tỉnh Trung Bộ. Chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến dịch của ta lên thành cuộc Tổng tiến công chiến lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta mở chiến dịch Tây Nguyên từ ngày 4-3 đến ngày 3-4-1975, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; giải phóng các tỉnh Nam Tây Nguyên; mở rộng hành lang nối liền Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Khu 5; thực hiện chia cắt chiến lược, tạo lập cục diện mới về chiến lược. Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn (10, 320, 316, 3 và 968) và 4 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn tăng - thiết giáp, 3 trung đoàn pháo phòng không cùng lực lượng vũ trang của các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum. Về địch, có lực lượng của Quân đoàn 2, Quân khu 2 và lực lượng tăng cường gồm: Sư đoàn bộ binh 23, 7 tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 1 lữ đoàn tăng - thiết giáp, 230 khẩu pháo, 1 sư đoàn không quân. Kết quả, sau 29 ngày đêm chiến dịch, ta diệt và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 28.000 tên địch, thu và phá hủy 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng các loại; giải phóng 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và một số tỉnh Trung Bộ. Chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến dịch của ta lên thành cuộc Tổng tiến công chiến lược.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Tây Nguyên đang thay da đổi thịt từng ngày, không những mạnh về kinh tế, phát triển về văn hóa-xã hội mà còn vững mạnh về quốc phòng-an ninh xứng danh là “Mái nhà” của Tổ quốc./.

Hà Thành

Gõ tiếng việt: Off Telex