Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết văn hóa - lịch sử
QĐND - Thứ năm, 22/03/2012 | 17:14 GMT+7

QĐND - Nguyễn Xuân Khánh sáng tác từ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng phải sang thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Nguyễn Xuân Khánh mới được biết đến như một cây bút tiểu thuyết hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại, với bộ ba tiểu thuyết văn hóa-lịch sử đồ sộ: Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006), và mới đây nhất Đội gạo lên chùa (2011). 

Hồ Quý Ly được viết trong những suy tư, trăn trở sâu sắc về quá trình đổi mới của dân tộc, qua câu chuyện về thời đoạn sóng gió cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, khi nhà nước Đại Việt phải gồng mình đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng trong nước và chống giặc ngoại xâm. Khắc họa thành công nhân vật Hồ Quý Ly cùng các kẻ sĩ trong triều đình nhà Hồ, Nguyễn Xuân Khánh đã thổi một luồng khí mới mẻ vào thể loại tiểu thuyết lịch sử, kéo câu chuyện thời quá khứ gắn kết với câu chuyện của thời hiện tại, hòng đưa ra những tham góp thiết thực vào công cuộc đổi mới đất nước. Nhưng phải đến hai tiểu thuyết sau, Nguyễn Xuân Khánh mới hiện lên với đầy đủ bút lực của mình: Nhà văn hóa, tư tưởng trong tư cách nhà văn.

Nguyễn Xuân Khánh (sinh năm 1933, bút danh Đào Nguyễn), quê tại Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1953 vào bộ đội, sau đó ông làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội rồi Báo Thiếu niên tiền phong. Các tác phẩm chính: Miền hoang tưởng (tiểu thuyết, 1990), Hồ Quý Ly (tiểu thuyết, 2000), Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết, 2006), Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết, 2011). Ông đoạt Giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Lấy bối cảnh giao thời sơ khởi cho sự tiếp xúc Đông-Tây ở Việt Nam làm bệ đỡ cho việc khám phá quá khứ dân tộc, Mẫu thượng ngàn đã tiếp tục khẳng định những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh ở đề tài lịch sử. Lựa chọn đạo Mẫu làm lăng kính, Nguyễn Xuân Khánh đã để các nhân vật trong tiểu thuyết được bao bọc bởi niềm tin hồn nhiên vào một thế giới đa thần giáo, phát xuất bởi chỗ được tiếp xúc thường xuyên với sự phồn thực phồn sinh của mảnh đất nhiệt đới. Có lẽ, Nguyễn Xuân Khánh muốn đi sâu vào nguồn cội của sức sống Việt Nam, căn nguyên để người dân Việt Nam vượt lên mọi ách thống trị trong suốt mấy ngàn năm chứ không đơn thuần ở thời Pháp thuộc. Ta có thể nghĩ đến một quan niệm về sự hòa giải ở Nguyễn Xuân Khánh khi đặt nhân vật ông Lềnh và đứa con của Julien trong bụng Nhụ, kết quả của cuộc cưỡng đoạt trong đêm hội làng, vào trong bối cảnh chung sống mà đạo Mẫu có thể đem lại. Phát kiến cá nhân của Nguyễn Xuân Khánh bộc lộ ở chỗ cái thai nhi ấy cuối cùng cũng đã được đón nhận trong vòng tay của Mẫu không một mảy may nghi kỵ, phân biệt. Tấm lòng rộng mở và bao dung của Mẫu, phải chăng, là cơ chế cho việc tiếp biến và dung hợp văn hóa, là cơ sở cho sự trường tồn của dân tộc Việt.

Vẫn bắt vào mạch tự sự văn hóa-lịch sử, ở Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục ý hướng đi tìm những kiến giải về sức sống của dân tộc Việt Nam. Ở khúc đoạn này, tiểu thuyết không kiến giải về dân tộc qua người đại diện chính đáng của nó như Hồ Quý Ly, cũng không kiến giải về dân tộc qua thời đoạn thử lửa khốc liệt của nó như ở Mẫu thượng ngàn, mà xuất phát từ chính lịch sử của sự dựng xây dân tộc Việt Nam suốt thời hiện đại. Có thể nói, nếu như đạo Mẫu là sợi dây tư tưởng xuyên suốt Mẫu thượng ngàn thì đạo Phật cũng giữ một vai trò như thế trong Đội gạo lên chùa. Tiểu thuyết được bố cục làm ba phần: I - Trôi sông viết về thời đoạn kháng chiến chống Pháp, II - Bão nổi can qua viết về thời đoạn hòa bình lập lại trên miền Bắc, và, III - Về cõi nhân gian viết về thời đoạn chống Mỹ và ngay sau khi thống nhất đất nước; với trục sự kiện trung tâm là cuộc sống và số phận của những người gắn với ngôi chùa Sọ vùng chân Tam Đảo. Phần I và phần II hầu như tiếp tục triển khai quan điểm đối thoại văn hóa đã được đề cập từ trong Mẫu thượng ngàn, ở những giai đoạn tiếp sau của quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước; đồng thời nuôi dưỡng cho ý tưởng về một mạch nguồn Phật giáo trong tâm hồn dân tộc. Tất cả những dụng công ấy nhằm một mục đích, được nhà văn triển khai ở phần III, chỉ ra vai trò của Phật giáo qua nhận định: “Phật giáo là một lối sống”. Với Nguyễn Xuân Khánh, Phật giáo vào Việt Nam đã không giữ được cái nguyên tính sơ khởi của nó, thậm chí nhanh chóng hòa đồng vào đời sống tâm linh và được duy trì trong nền văn hóa Việt. Có thể coi đấy là một tư tưởng Phật-giáo-Việt-Nam, một tư tưởng đã được thế tục hóa để bao chứa những phẩm chất dung dị, khoan hòa, hữu ái. Có phải vì thế, mà Nguyễn Xuân Khánh, đã để cho nhà sư Đức, sau nhiều tham bác, trở thành một giáo sư đại học chuyên về Đông phương, sau khi tổng kết về hai lần điều chỉnh Phật pháp (thời Lý-Trần), theo nguyên lý âm-dương tương nhượng, đã đi đến nhận định: “Tôi nghĩ thời hiện đại là thời dương khí bốc lên ngùn ngụt, ta cũng nên tham khảo kinh nghiệm của hiền nhân”. Phải chăng đấy cũng là một kiến giải của nhà văn về dân tộc, tương lai dân tộc? 

Có thể nói, đến bộ ba tiểu thuyết văn hóa-lịch sử này, Nguyễn Xuân Khánh đã gác sang bên những trăn trở về đổi mới bút pháp để đi sâu vào những đổi mới về mặt tư tưởng. Tư tưởng, chứ không phải nghệ thuật tiểu thuyết, mới là mục đích chính yếu và đóng góp chính yếu của Nguyễn Xuân Khánh trong tư cách tiểu thuyết gia. Làm nên một bước ngoặt về quan niệm nghệ thuật, là trở về với lối tự sự truyền thống trong khi rất nhiều nhà văn Việt Nam tài năng khác dấn thân vào con đường đổi mới nghệ thuật tự sự, Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công, không chỉ trong vai trò của một nhà văn mà còn trong vai trò của một trí thức luôn quan thiết tới các vấn đề của văn hóa, quốc gia, dân tộc.

Thạc sĩ ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Gõ tiếng việt: Off Telex