Nhận ra thì đã muộn!
QĐND - Chủ nhật, 29/04/2007 | 22:0 GMT+7

Ở Hoa Kỳ, tướng Cao Văn Viên, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn thú nhận trong cuốn hồi ký rằng: Binh sĩ miền Nam Việt Nam (quân đội Sài Gòn) trong những năm 1972-1975 ra trận, nhưng quá lo lắng về việc tiếp tế đạn dược không được nhanh như yêu cầu, nếu bị thương, phải chờ quá lâu mới được bốc khỏi mặt trận. Cái thời tiếp nhiên liệu thừa thãi và không vận nhanh đã qua rồi…

Đó là một sự thật, tài khóa 1974-1975, Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khoảng 750 triệu USD, so với những năm trước là hàng tỷ USD. Trong một bài viết, đại tá Phạm Bá Hoa, Phó tổng cục trưởng Tổng cục tiếp vận (hậu cần) của quân đội ngụy thừa nhận: Vào ngày Quân đoàn 2 (ngụy) ở Tây Nguyên thất thủ, ngành hậu cần tiếp vận huy động được tất cả 9 máy bay C130 để giúp cho BTL Quân đoàn 2 di tản gấp. Nhưng đáng tiếc là sân bay Plei-cu không kiểm soát được sự hoảng loạn, binh lính chen chúc nhau, giành chỗ lên máy bay. Họ xả súng bắn bừa bãi, vì vậy máy bay không thể xuống để bốc quân đi, sau đó, binh lính di tản chủ yếu bằng quân xa, theo đường 7 về qua Cheo Reo…

Vì lệ thuộc vào Hoa Kỳ, nên quân ngụy Sài Gòn mang nặng tư tưởng ỷ lại vào vũ khí. Trong các hồi ký của các tướng lĩnh, sĩ quan ngụy, nỗi ám ảnh vì thiếu xăng dầu, đạn dược khiến tinh thần chiến đấu của quân ngụy sa sút “xuống tận mắt cá chân”. Số máy bay A37 và F5E của không quân ngụy là chỗ dựa về hỏa lực, đột kích, cơ động nhanh, nhưng phần lớn phải nằm xưởng bảo trì, khả năng chi viện hạn chế.

Đánh chiếm căn cứ Đồng Dù sáng 29-4-1975. Ảnh tư liệu

Tâm lý sợ vũ khí Việt cộng cũng đè nặng lên các binh sĩ ngụy. Lính tăng, thiết giáp ngụy rất sợ Việt cộng có súng chống tăng B41 biên chế theo tiểu đội bộ binh. Còn xe tăng Việt cộng thì có pháo cỡ nòng 100mm, trong khi xe M48 của ngụy chỉ có pháo 75mm. Không quân ngụy cũng rất sợ tên lửa tầm nhiệt SA-7 (A72), bám mục tiêu dai dẳng và bắn rất chính xác, được biên chế cùng đội hình pháo phòng không 57mm…

Tuy vậy, Phạm Bá Hoa cũng phải cay đắng thốt lên: Hệ thống quân lực, binh bị (trang bị sử dụng cho quân đội) còn nguyên ở các vùng chiến thuật, trong đó phải kể đến căn cứ liên hợp hải lục, không quân Đà Nẵng, căn cứ Phan Rang, Nha Trang, khu kho tiếp vận khổng lồ Long Bình, căn cứ Biên Hòa, Vùng 4 chiến thuật… vậy mà quân ngụy vẫn không chống chọi được với Quân giải phóng. Về phía tiếp vận, từ sau ngày mất cao nguyên đến lúc này (cuối tháng 3-1975) toàn bộ các kho của toàn ngành tiếp vận từ Huế vào đến Cam Ranh, hầu như nguyên vẹn.

Cho đến bây giờ, tướng lĩnh ngụy vẫn chưa lý giải đầy đủ được nguyên nhân thất bại nhanh chóng của chúng mà chủ yếu đổ tội cho Hoa Kỳ bội ước. Phạm Bá Hoa viết: "Thật là đau lòng, đến nay đã hơn 30 năm lưu vong, chưa một vị lãnh đạo (chính quyền Sài Gòn) nào của chúng ta thuở ấy, dám nhận trách nhiệm mà vẫn cho rằng "thất bại là tại Mỹ bỏ rơi".

Tuy nhiên, tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh quân dù ngụy lại thừa nhận: Nếu phân tán quân dù, chi viện cho Thượng Đức, sau này quân dù còn phải phân tán “be bờ” ứng cứu khắp nơi, khó có thể tạo thành lực mạnh để chữa cháy có hiệu quả cho các mặt trận. Lưỡng cũng nhận ra điểm xung yếu ở đồng bằng sông An Lỗ (Thừa Thiên-Huế), một khi quân giải phóng đánh chia cắt khu vực này, khiến cho Quảng Trị bị cắt khỏi Thừa Thiên-Huế.

Trong một bài viết, Phạm Bá Hoa cũng phải thú nhận: Tinh thần chiến đấu của quân ngụy sút kém, tổ chức phòng ngự thiếu kết quả. Lực lượng dưới quyền tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (tại Phan Rang) thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của sư đoàn 2 bộ binh, sư đoàn dù, và sư đoàn thủy quân lục chiến quá mệt mỏi. Tuy vẫn còn phiên hiệu, nhưng nhiều đơn vị đã không còn sức chiến đấu.

Rõ ràng, các sĩ quan ngụy ở hải ngoại còn phải nghiên cứu thêm nhiều, thì mới khách quan nhận ra là: Một đội quân bị lệ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài, chiến đấu vì mục tiêu phi nghĩa, đi ngược lợi ích của dân tộc và nhân dân, tất yếu phải thất bại.

TRẦN DANH BẢNG

Gõ tiếng việt: Off Telex