Văn hóa Việt
Tản mạn về văn hoá làng
QĐND - Thứ ba, 17/01/2012 | 21:10 GMT+7

Bất cứ người Việt nào cũng có, và cần có một vùng quê để thương để nhớ. Thật bất hạnh cho ai đó không có được một “vùng thương nhớ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ. Mà đã là hoài niệm, thì cho dù nơi ấy có cơ cực tủi nhục đến đâu, có xơ xác lam lũ thế nào, có để lại những dấu ấn buồn đau đến mấy, thì vẫn có sức gọi dậy những vang bóng một thời đầy ắp những kỷ niệm mông lung, ấm áp.

Về làng, ta về làng, hai tiếng ấy giục giã đến nao lòng những người vì cuộc mưu sinh phải xa quê:

...Con đi năm ấy tháng tư,

Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba.

Con đi quạnh cửa quạnh nhà,

Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm.

Cha giậm gạo, mẹ vần cơm.

Có con, con vắng, ai làm thay cho.

(“Thư gửi thầy mẹ” - Nguyễn Bính)

Cổng làng cổ Đường Lâm. Ảnh: TRUNG NGUYÊN

Còn với người cầm súng ra đi vì sứ mệnh cứu nước của những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp trong “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung thì lại có một âm hưởng khác:

Cam ba lần có trái

Bưởi ba lần ra hoa

Anh bước chân đi xa

Từ ngày đầu phòng ngự

Bước qua kỳ cầm cự

Anh có gửi lời về

Cầm thư anh mân mê…

Và rồi làng quê rộn ràng, náo nhiệt hẳn lên khi:

Từ lưng đèo dốc đá mù che

Các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ

Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở

Nồi cơm nấu dở, bát nước chè xanh

Ngồi vui ta kể chuyện tâm tình bên nhau.

(“Bộ đội về làng” - thơ Hoàng Trung Thông,

nhạc Lê Yên)

Những chuyện tâm tình ấy được gửi gắm vào giai điệu trầm lắng trong “Làng tôi” của Văn Cao, gọi dậy những hoài niệm thật da diết của “Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung… đồng quê yêu dấu bóng tre với con thuyền một dòng sông”.

Tiếng chuông nhà thờ ấy điểm xuyết vào âm hưởng sâu thẳm của tiếng chuông chùa vốn ngân vang tự bao đời trong cảnh sắc làng quê, nuôi dưỡng, thanh lọc tâm hồn người nông dân nói lên sự hòa hợp khoan dung trong đời sống tinh thần của làng quê ta, in đậm dấu ấn của truyền thống văn hóa Việt Nam. Một nền văn hóa có sức dung hợp, tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của thế giới để làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình. Tuy nhiên, nếu rạch ròi ra thì mãi đến thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII, ở một đôi nơi, làng quê mới có tiếng chuông nhà thờ, và tháp chuông nhà thờ tuy cố xây cao hơn mái chùa làng song không hề làm “thấp” đi ngôi chùa làng trong tâm thức người Việt!

Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt. Chùa làng thường gắn với đình làng, một bộ sóng đôi trong tâm thức người Việt, thể hiện sinh động triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hòa hợp trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng dân gian. Chùa làng còn đáp ứng một nhu cầu sâu đậm của đời sống thôn dã, đó là sự cân đối trở lại nét bất bình đẳng trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa. Nếu ở đình làng, ngoài những ngày sóc vọng lễ tiết có “Hội làng mở giữa mùa thu / Giời cao gió cả giăng như ban ngày” mà cả dân làng đều tụ hội, thì thông thường, chốn đình trung chỉ dành cho các quan viên bàn “việc làng”, đàn bà con gái không được can dự. Để bù lại, có ngôi chùa làng dành cho họ, các cụ, các bà, các cô thôn nữ, và đương nhiên trẻ em được theo bà, theo mẹ, theo chị đến chùa. “Trẻ vui nhà, già vui chùa” nhưng trẻ cũng vui bám váy bà đến chùa để được ăn oản.

Vì vậy, nếu “Cái đình là trung tâm của làng. Làng nào cũng có đền thờ ông thành hoàng. Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong quang nhất làng” (Tô Hoài) thì chùa làng thường được cất nơi thanh vắng, tịch mịch, không câu nệ là ở góc làng, ở ven làng hay ở trung tâm. Dù tọa lạc ở vị trí nào thì ngôi chùa làng vẫn hiện diện vừa thân thiết gần gụi, vừa huyền ảo lay động cõi tâm linh. Một góc kín đáo trong đời sống tinh thần của người làng quê!

Nhớ lại vang bóng của một thời để làm sống lại một nét văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính: “Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa/ Gậy trúc dắt bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt miệng nam mô”. Chao ôi, một vùng thương nhớ, quyến rũ dường như đã một đi không trở lại với tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa được đẩy tới.

Đền suối Mỡ, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ảnh: Tiến Dũng

E rằng ai đó đã nhầm với cái nhìn thiển cận “ăn xổi ở thì”, cứ ngỡ đưa chuyện thi người mẫu thi hoa hậu lượn lờ khoe các vòng eo là thay được cho “yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa” để được là hiện đại và phát triển. Đúng là nhiều gia đình nông thôn đã sắm được chiếc ti vi, nhà chưa sắm được thì đêm đêm có thể xem nhờ hàng xóm. Kinh tế có cải thiện, nhưng lối sống chưa mấy đổi thay, thị hiếu thẩm mỹ đi liền với phong tục tập quán của gần hai phần ba dân số sống ở nông thôn sẽ ngỡ ngàng như thế nào khi được thường xuyên “tiếp sóng” những lượn lờ vòng eo và áo tắm hai mảnh! Những cái đó sẽ “phát huy tác dụng” như thế nào thì báo chí đã phơi bày hệ lụy.

Người ta quên mất rằng, văn hóa không phải là mì ăn liền, văn hóa được hình thành theo quy luật thẩm thấu. Việc ăn tươi nuốt sống những sản phẩm văn hóa không tương thích với môi trường sống và phong tục tập quán chưa đổi thay sẽ gây độc hại nhiều hơn là thêm “dưỡng chất”. Bởi thế, mới có tiếng kêu thảng thốt: Những nền tảng của văn hóa truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hóa làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ “ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng. Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng”. (Nguyễn Quang Thiều, Vietnamnet 20-8-2008).

Ngẫm nghĩ kỹ, nền văn hóa làng, có người gọi nôm na là cái hồn vía làng quê vốn được bảo tồn và nuôi dưỡng bằng xương máu của bao thế hệ. Người Việt hiểu rõ làng và nước gắn làm một, cho nên làng còn thì nước còn. Nhiều lần ông cha ta dám bỏ ngỏ kinh đô Thăng Long: Thế kỷ XIII chống đế quốc Nguyên Mông, thế kỷ XV chống quân xâm lược nhà Minh, thế kỷ XVIII chống quân xâm lược nhà Thanh, thế kỷ XX, Hà Nội bị thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng. Và rồi, quân dân đời Trần, đời Lê, đời Quang Trung và thời đại Hồ Chí Minh dựa vào làng để tích tụ sức người, sức của để chiếm lại Thủ đô, lấy lại nước. Nổi rõ lên trong truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm qua các thời đại, ngôi chùa làng, nơi ấp ủ văn hóa truyền thống, cũng là nơi nuôi dưỡng chở che người yêu nước.

Thì chẳng thế sao? Ngay trong cái bảng lảng của một cảm thức mơ hồ về lòng yêu nước mà “Tự Lực Văn Đoàn” của một thời gợi nhớ, thì ngôi chùa trong “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Nhất Linh chẳng đã từng để lại trong ký ức của một lớp người những thoáng đăm chiêu về đất nước dưới ách nô lệ đó thôi!

Một bóng dáng khác, dữ dội hơn nhưng cũng đằm thắm, sâu nặng hơn về ngôi chùa làng, trong tác phẩm của Xuân Cang. Một cô du kích gan dạ ở “Kẻ Sủi”, từng gánh rơm đốt nhà vãi của ngôi chùa làng mình để làm hiệu lệnh cho tiêu thổ kháng chiến. Nhưng khi hòa bình được lập lại, làng của cô đi vào hợp tác, cô đã quyết không chịu biến ngôi chùa làng thành trại chăn nuôi. Không cưỡng lại được sức ép, cô lấy cái chết của mình để cảnh báo về sự hủy hoại văn hóa. Cô đã chất đầy hoa huệ trong phòng kín rồi đóng chặt cửa để chết trong hương huệ! Tác giả dẫn lời người chị: “Cô tâm sự với chị rằng chùa là nơi thiêng liêng, bát ngát hương hoa, nơi ấy lại có đền có giếng, ngày xưa sớm chiều có tiếng chuông ngân làm dịu lòng người. Ngày trước kháng chiến, đốt chùa làm hiệu lệnh, nó đi một nhẽ. Nay khác. Cô không nỡ biến chùa thành nơi ô uế. Cô sợ rằng làm thế làng ta sẽ không ngóc đầu lên được. Cô thà chết. Người ta đã kết cho cô đủ tội. Và cứ lập trại chăn nuôi. Khổ thế đấy em ạ. Chị đã ẵm cô ấy ra khỏi phòng, người cứ bợt bạt đi. Và đẫm một mùi hương huệ” (“Nụ Hoa Cau”, tr. 22).

Liệu có thể khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của những hình bóng quê hương, những ngôi chùa làng, những ngôi đình làng thân thiết vốn sâu thẳm trong tâm thức người Việt nay chỉ còn “vang bóng một thời”? 

Không! Văn hóa làng chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam, góp phần hun đúc nên bản sắc văn hóa dân tộc được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, không có cái gốc đó, không thể có bề dày văn hóa hôm nay. Đương nhiên, cũng trong văn hóa làng đã tích tụ những nét tiêu cực của người nông dân, lối suy nghĩ vụn vặt, tản mạn tự trói mình trong lũy tre làng của lối sống tự cấp, tự túc không sao chuyển nổi sang kinh tế hàng hóa để phát triển bứt lên. Cùng với những tiêu cực phải xóa bỏ, phải biết ra sức trân trọng gìn giữ và phát huy những cốt lõi tinh hoa của văn hóa làng, cái gốc của văn hóa dân tộc.

Càng đi vào hiện đại, càng tiến sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, càng phải biết gìn giữ, vun đắp cho cái gốc ấy. Đã mất gốc thì làm sao phát triển, cho dù kinh tế có tăng trưởng bao nhiêu mà văn hóa lại lai căng, mất gốc thì sự tăng trưởng đó chẳng còn được bao nhiêu ý nghĩa. Thử hỏi, chúng ta đến với thế giới bằng cái gì nếu không phải là bằng văn hóa?

GS TƯƠNG LAI

Gõ tiếng việt: Off Telex