Nhật ký chiến tranh
Đá đỏ
QĐND - Thứ Hai, 20/02/2012, 10:1 (GMT+7)

QĐND - "Đá đỏ... Đỏ - máu đỏ, cờ đỏ. Đỏ - màu cách mạng - màu chiến thắng, rực rỡ và huy hoàng. Hòn đá - thể hiện khí phách hiên ngang, nghị lực, kiên định, vững vàng. Ta chọn cái danh từ ghép đó là để đặt tên cho cuốn nhật ký của ta là có ý nghĩa như vậy. Sau bao nhiêu thời gian gián đoạn, ta lại bắt đầu viết nhật ký để kiểm điểm việc làm thường ngày của ta và để viết nên những cảm xúc mãnh liệt của ta trong đấu tranh cho cuộc sống".

Liệt sĩ Lê Mạnh Quỳnh. Ảnh chụp lại

 

Lê Mạnh Quỳnh sinh ngày 3-2-1948, tại Phú Thọ. Sau đó, gia đình anh chuyển về sống ở 38 Phan Đình Phùng và 24 Đặng Dung, Hà Nội. Năm 1967, khi đang là sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ (khoa Nga văn), anh “xếp bút nghiên lên đường đánh giặc”. Vào đến đơn vị, do biết ngoại ngữ, anh được đơn vị cử sang Liên Xô (trước đây) học. Nhưng anh nói: “Nếu muốn đi Liên Xô học thì tôi đã ở nhà học. Tôi vào đây là để chiến đấu”. Những lần đi trinh sát nắm địch là những lần anh và đồng đội phải đối mặt với biết bao nguy hiểm. Lê Mạnh Quỳnh đã ngã xuống ngày 16-2-1971, trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Khi hy sinh, anh thuộc Đại đội trinh sát, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320.

Những dòng nhật ký được Lê Mạnh Quỳnh viết từ giữa năm 1969 đến cuối năm 1970, trong một tập giấy pơ-luya gấp nhỏ. Tập nhật ký ấy đã trải qua những chặng đường lịch sử và trở về với gia đình qua tay đồng đội.

Chờ ra trận

8-6-1969:

Nắng không to lắm. Cái nắng khắc nghiệt của đất Thanh Hóa này lại một lần nữa thử thách ta. Sáng hôm nay, một ngày Chủ nhật cũng giống như những ngày Chủ nhật khác: đi lấy củi xa và nắng.

15-6-1969:

Đúng! Chỉ có vào chiến trường thì mới có thể chứng minh được ai tốt, ai xấu. Chân lý đó là một chân lý bất di bất dịch, mà chỉ có những người nào biết hướng đi của cuộc đời mình thì mới hiểu, không thể đổi trái tim đó lấy trái tim nào khác, càng ngày lại càng thấy có những cái phức tạp, mới mẻ.

Cái ước mong chiến đấu của tôi sao mãi không thực hiện được, vào chiến trường thì dù có chết, dù có phải chịu đựng đến thế nào tôi cũng thấy sung sướng.

5-8-1969:

Ngày đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại, trái tim ta đã đập rộn lên vì náo nức, căm thù. Chúng đã tự đến để nộp mạng, để cho lòng căm thù đang âm ỉ bùng dậy.

Trên đường hành quân từ Bắc vào Nam chiến đấu, nhiều lần anh bị sốt rét. Anh sợ một lúc nào đấy không theo kịp đơn vị đến chiến trường. Bởi anh lo những cơn sốt rét hành hạ, níu bước chân anh. Cho nên, mỗi lần nghe thấy đồng đội cùng đơn vị được đi chiến đấu, anh lại sốt ruột, muốn được giáp mặt với quân thù...

Một trang nhật ký của liệt sĩ Lê Mạnh Quỳnh. Ảnh: Thiện Hùng

 

12-9-1969:

Nghe tin đơn vị có bộ phận đã đi chiến đấu, lòng tôi nóng như lửa đốt. Sốt rét đã bắt tôi phải nằm ở đây. Tôi sẽ xin về, xin về để đi cùng đơn vị. Nóng ruột lắm rồi. Ôi! Nếu được đi chiến đấu ngay bây giờ là một niềm hạnh phúc lớn, đạt đúng lòng mong muốn của ta. Ôi! Chiến trường sao nó thúc giục và kêu gọi ta mạnh mẽ thế. Ta không nề hà chi, nếu được đi thì sung sướng vô cùng.

6-2-1970:

3 giờ 30’ sáng rồi. Đêm nay ta đã thức trọn. Đúng là Tết năm nay sẽ là một Tết buồn nhất trong cuộc đời ta. Mới thế mà đã 2 năm rồi, lúc nãy là năm cũ, bây giờ đã sang một năm mới.

Bác ơi! Nhớ Bác quá. Cháu như thấy Bác cười, Bác vẫy tay và bắt điệu “Kết đoàn”. Thiếu Bác, vị ngon ngọt của ngày Tết không còn đắm say như trước nữa.

Dự cảm về một chuyến đi xa, xa mãi...

Sau bao mong mỏi đợi chờ, Lê Mạnh Quỳnh và đồng đội đã được vào chiến trường, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt nhất giữa ta với quân thù trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

2-6-1970:

Nhận lệnh đi chiến đấu. Thật là phấn khởi quá chừng. Tuy đột ngột, nhưng ta đã có sự chuẩn bị từ trước, cho nên không cảm thấy bị động gì cả.

Ngày kia 4-6 là lên đường rồi. A (Tiểu đội - PV) ta được đi trước. Thật là hạnh phúc thay cho ta. Thế là chờ đợi bao lâu nay, nay đã thành sự thật. Kỳ này đi phải là một người cộng sản.

20-6-1970:

Lên đài quan sát. Máy bay địch hoạt động dữ hơn những ngày mới đến. Nhưng chưa có dấu hiệu đáng ngại cả. Muỗi nhiều như trấu, loại muỗi vằn cứ đốt là ngứa.

28-6-1970:

Thật là thú vị. Sống ở rừng núi Quảng Bình này, cứ ngày ngày đi làm công tác, tối lại về trong cái lán nhỏ bé này, nó cũng không còn làm cho ta tức bực nữa. Lúc nào tâm hồn cũng thấy sảng khoái, không có gì cảm thấy buồn nữa.

4-7-1970:

Nhiệm vụ đã kề bên. Chỉ vài ngày nữa ta và đơn vị sẽ bước vào cuộc chiến đấu mới, gay go hơn, phức tạp hơn bây giờ nhiều. Có thể cũng chỉ vài ngày nữa thôi có những đồng chí sẽ ngã xuống không bao giờ dậy nữa, rồi rất nhiều cái có thể.

Năm 1968, có lúc ta đã tỏ ra không được can đảm lắm. Năm nay nhất định không được như vậy. Tới đây, Mỹ ít, ngụy nhiều. Nhưng thằng ngụy thì khó đánh. Cho nên đòi hỏi một trinh sát viên phải tỉnh táo, tinh khôn, đồng thời phải có lòng dũng cảm, táo bạo.

3-8-1970:

Thế là thằng Thơm đã chết. Nó chết hồi 9 giờ 14’ ngày 1-8. Không bao giờ nó còn hiểu được thêm cái gì nữa. Lúc sắp lìa đời, mày có trăng trối lại gì với chúng tao không hả Thơm ơi!

Mới học lớp vỡ lòng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà nó đã phải chết. Ôi! Thơm ơi! Mày có hiểu không, chúng tao và bao người vẫn đang tiếp tục làm những cái mà mày đang vươn tới vậy. Vĩnh biệt mày, vĩnh biệt một tâm hồn mới thức dậy, vĩnh biệt tấm thân nhỏ bé, đáng quí, vĩnh biệt Nguyễn Ngọc Thơm.

Trong cái ác liệt ở chiến trường, Quỳnh đắn đo có nên dành tình cảm với người phụ nữ tên Mai Phương (quê Hà Tĩnh) hay không. Anh không muốn người con gái ấy phải chịu khổ cực, vì kẻ thù vẫn còn ở trước mắt. Thế nhưng, trước một tình yêu cháy bỏng của Mai Phương dành cho mình, anh không thể không xao lòng

30-8-1970:

Cùng một lúc nhận được 3 lá thư của M.P. Tình cảm của những cô gái biết yêu thật là sôi nổi, thật là khủng khiếp. Hình như có nó là cô ấy có thể đạp phăng tất cả trở lực, để tìm đến một cuộc sống đầy hạnh phúc hay sao ấy. Khác hẳn với những lá thư trước, lần này là 3 bản “cáo trạng” dài 16 trang... Sau này nếu có vấn đề gì xảy ra, lúc đó đừng trách anh, P nhé. Lúc đó nếu có phải chịu khổ cực thì đừng hối hận, vì đã lao vào mà yêu anh.

Hai lần trước đi trinh sát ở Khe Sanh, Quảng Trị, anh đều bị thương nặng. Nhưng lần thứ 3 này, đúng như anh dự cảm, anh đã đi xa, xa mãi. Anh ngã xuống khi cuộc chiến đang trong giai đoạn khốc liệt nhất.

12-9-1970:

Lại ra đi lần thứ 3, lần này đi xa. Có lẽ rất xa và lâu. Thế cũng tốt, vì “đâu có giặc là ta cứ đi” kia mà.

Lần này ra đi, ta vẫn nuôi một mộng tưởng: Bằng nghệ thuật, ta sẽ chụp bắt được ít nhất một thằng tù binh.

Thôi! Ra đi là một niềm hạnh phúc. Xin chào miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chào ba mẹ kính yêu vô vàn của con, chào các anh, các chị, chào các cháu Dũng, Dương, Tuyết của cậu.

Em ở lại nhé Mai Phương thân yêu của anh! Phút ra đi mà ta không gặp nhau. Nhưng anh đi là để cho mãi mãi sau này ta sống bên nhau. Em phải thay anh chăm sóc ba mẹ già. Ngày chiến thắng anh sẽ về, và lúc đó cuộc sống tương lai sẽ trả lại cho anh tất cả những gì anh chưa được tận hưởng. Hẳn lúc đó anh sẽ làm được nhiều điều bổ ích cho Tổ quốc.

Thôi, ra đi! Ra đi trong sung sướng. Hôn tất cả mọi người!

Sau ngày Lê Mạnh Quỳnh hy sinh, qua nhiều đồng đội, cuốn nhật ký đã trở về với gia đình anh. Bà Lê Khánh Ngọc, 71 tuổi, chị gái của liệt sĩ Lê Mạnh Quỳnh, hiện đang sống ở phố Quang Trung, Hà Nội nâng niu cuốn nhật ký trong tay, rưng rưng nói với tôi: “Gia đình đã 5 lần vào Quảng Trị để tìm hài cốt em trai mình, nhưng chưa thấy. Qua những thông tin của bài viết này, chúng tôi hy vọng đồng đội của em biết được nơi yên nghỉ của em và báo cho gia đình”.

HÀ THIỆN HÙNG (biên soạn)

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác