Thư thời chiến
Thư thời chiến
Những bức thư đi qua chiến tranh
QĐND - Thứ Năm, 21/10/2010, 9:0 (GMT+7)

Cuộc vận động sưu tầm và giới thiệu “Những kỷ vật kháng chiến” đã tiếp nhận hơn 10 nghìn kỷ vật, trong đó 321 bức thư tình thời chiến của vợ chồng Đại tá, bác sĩ Nguyễn Văn Ích và Trung tá, bác sĩ Vũ Thị Như Hiền đến nay được coi là một kỷ lục. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông bà trong một căn phòng ấm cúng ở khu tập thể Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội…

Tình cờ nên duyên

Đại tá, bác sĩ Nguyễn Văn Ích, nguyên Chủ nhiệm Quân y Quân khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ, tâm sự: “Tôi sinh ra ở Triệu Phong, Quảng Trị, nhập ngũ tháng 10-1945. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được lệnh về Cục Quân y báo cáo tình hình đơn vị và nhận nhiệm vụ mới. Trên đoạn đường đi bộ từ Yên Bái về Thái Nguyên, tôi làm quen với một cô gái. Đi bộ đường dài, gặp được người chuyện trò, lại là một cô gái có nét mặt thanh tú, nhân hậu, giọng nói dịu dàng, đường xa như ngắn lại. Mới vừa quen nhưng giọng nói, tiếng cười của cô gái đó làm cho tôi có cảm tình ngay.

Ông bà Nguyễn Văn Ích, Vũ Thị Như Hiền và ba con trước ngày ông Ích vào chiến trường.

Hòa bình lập lại, số phận run rủi, tôi được trên điều về Đội điều trị K9. Sau đợt phục vụ cho cuộc duyệt binh chào mừng Bác Hồ và Chính phủ về Thủ đô Hà Nội tháng 1-1955, Đội điều trị K9 chuyển vào Thanh Hóa, triển khai thành lập bệnh viện phục vụ bộ đội miền Nam tập kết. Ở cùng đơn vị, lúc này, tôi mới biết cô là y tá Vũ Thị Như Hiền. Cái tên đúng như tính tình của cô vậy, hiền dịu, nết na, hết lòng, hết sức chăm sóc thương binh. Nhìn cô bón từng thìa cháo cho thương binh, làm chỗ dựa hàng đêm cho thương binh bị vết thương vào phổi không thở được, tôi cảm động. Vốn có cảm tình sẵn, tôi yêu cô lúc nào không biết…”.

Ngày 29-1-1956, tại Thọ Xuân, Thanh Hóa, đơn vị tổ chức lễ cưới cho ông bà. Cũng dịp đó bà được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người về thành tích phục vụ thương binh. Hạnh phúc như được nhân đôi. Bà xúc động nhớ lại: “Khi quyết định làm vợ ông, tôi đã nghĩ: Đất nước chia cắt làm hai miền, cha, mẹ, người thân của ông còn trong đó, là người lính, nhất định ông sẽ trở lại miền Nam chiến đấu giải phóng quê hương và tôi cũng mong muốn được trở về quê chồng… Có điều, tôi không nghĩ cuộc chiến lại dài lâu đến thế, khi ông đi tóc còn xanh mà ngày về tóc đã hoa râm, đôi mắt sáng ngời, sâu thẳm của ông ngày nào đã có thêm một cặp kính lão…”.

Sợi dây nối tình yêu

Tháng 3-1962, Bác sĩ Nguyễn Văn Ích được lệnh đi B. Trước khi đi, ông ghé về thăm nhà. Ngày 4-3-1962, cả nhà ra thị xã Vĩnh Yên chụp ảnh kỷ niệm. Bức ảnh hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ là kỷ niệm bắt đầu những ngày chia ly vợ Bắc, chồng Nam. Đằng sau bức ảnh bà viết: “Chúc anh làm tròn nhiệm vụ quang vinh. Em mong anh về, các con mong bố về”. “Đêm chia tay, cả hai thao thức không ngủ được. Cả hai chỉ biết hy vọng, tin tưởng vào ngày thống nhất. Nhưng ngày đó ai biết được bao giờ, năm năm, mười năm... Ở chiến trường, nơi hòn tên, mũi đạn, cái sống, cái chết cận kề, ai biết được điều gì. Nhưng Tổ quốc kêu gọi, chúng tôi xác định đặt nhiệm vụ chung lên trên hết, đấu tranh gạt một bên tình cảm vợ chồng, cha con để cùng với quân dân cả nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”- bà Hiền tâm sự.

Vợ Bắc - chồng Nam, những lá thư là sợi dây liên lạc nối tình yêu của hai người. Cả hai ông bà ngầm hiểu: “Cứ nhận được thư thì đồng nghĩa với việc thông báo mình còn sống”. Mỗi tháng đều đặn, hai ông bà viết cho nhau từ 2 đến 4 lá thư. Sau hai tháng hành quân, bác sĩ Nguyễn Văn Ích vượt Trường Sơn, qua đất Lào vào đến huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam, được giao nhiệm vụ làm Chủ nhiệm Quân y Công trường 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng. 8 tháng sau, lá thư đầu tiên ông nhận được của bà vào tháng 10-1962. Ông viết gửi ra Bắc:

“Em và các con yêu quý! Anh vừa nhận được thư em lúc chiều. Cả hai lá, mừng không thể tả được. Mừng nhất là em đã nhận được tin anh… Anh nhớ em, nhớ ngày sinh của các con. Thương chúng nó bé. Chưa biết ngày nào, năm nào bố lại được cùng mẹ chăm sóc các con. Vì nhiệm vụ giải phóng miền Nam, mà biết bao gia đình phải sống trong cảnh chia ly, nhưng vẫn tin tưởng vào Đảng, dù có gian khổ hy sinh. Em hãy vui lên trước tình hình cách mạng miền Nam ngày càng phát triển. Nhớ em và nhớ các con, anh càng quyết tâm vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ... Anh ở miền Nam - Nguyễn Văn Ích”.

Hàng trăm lá thư ông viết cho bà và các con thường là những lời động viên tràn đầy lạc quan, tin tưởng: “Em đừng lo gì đến anh, càng nhớ thương em, các con anh sẽ làm tròn nhiệm vụ đầy sáng tạo, đầy tinh thần phụ trách trước bộ đội. Ở đây có đồng chí trên 10 năm nay không được gặp vợ con, có đồng chí chết đi rồi. Có đồng chí vào Nam liên lạc gia đình không còn một ai thân thích… Anh vẫn sướng hơn nhiều người… Anh và đồng đội anh đang làm nhiều việc vĩ đại. Tuy gian khổ, khó khăn, đời vẫn tươi, đầy lạc quan cách mạng”.

Còn bà, những lá thư bà viết như sưởi ấm tâm hồn ông, những khó khăn, gánh nặng gia đình bà quên đi không nhắc đến. Bà muốn làm yên lòng người đi chiến đấu: “Đọc thư anh, em càng thêm sức mạnh, phấn đấu công tác, nuôi con. Đặc biệt là anh luôn vì Đảng, vì dân, vì đấu tranh thống nhất, vì hạnh phúc của dân tộc, anh không ngại khó khăn gian khổ vững bước đi lên. Đó là nguồn vui của em, càng thương yêu anh nhiều, đồng thời cũng học tập và mến phục tinh thần đó”... “Mỗi khi đọc báo theo dõi tin tức hàng ngày tin chiến thắng dồn dập của Quảng Nam, miền Nam lại là em thấy sung sướng, chắc anh cũng góp phần nhỏ trong đó…”.

Bà Hiền tâm sự: Tôi một nách ba con nhỏ, lại có mẹ già, những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, cực khổ trăm chiều. Hồi đó, tôi đi học ở Hải Dương, các con đi sơ tán ở Sơn Tây, cứ chiều thứ bảy, tôi đạp xe hơn trăm cây số về thăm và tiếp tế cho con. Có lúc kiệt sức, tưởng chừng không thể vượt qua nổi. Vậy mà, tôi đã sống, đã vượt qua. Những bức thư của ông là nguồn động viên lớn nhất với tôi, là nguồn sống tinh thần tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Tôi đã viết: “Nhớ tới anh chỉ một niềm tin, một tấm lòng son sắt thủy chung đợi ngày đoàn tụ”.

Rất nhiều bức thư từ hậu phương gửi ra tiền tuyến và từ tiền tuyến gửi về hậu phương, không phải thư nào cùng đến tay người nhận. Những bức thư được những người lính quân bưu cõng trên lưng lội suối trèo đèo, vượt qua dãy Trường Sơn, vượt qua mưa dông, bão tố, bom đạn ác liệt của kẻ thù, thấm đẫm mồ hôi và máu của họ. Thư bị thất lạc nhiều. Nếu tính nhẩm 14 năm xa cách, mỗi tháng ông bà viết cho nhau từ 2 đến 4 thư thì 321 bức thư còn lại từ năm 1962 -1975, chỉ là số nhỏ còn lại được.

Những lá thư thời chiến là sợi dây nối liền tình yêu giữa tiền tuyến và hậu phương.

Ngày 1-4-1970, ông viết: “Suốt cả năm 1969 chỉ nhận được một thư của em, chắc lạc mất cả. Những năm ở trung đoàn, sư đoàn đã tích lũy cho anh nhiều kinh nghiệm quý giá, phải bám sát thực tế đơn vị, bám sát hoàn cảnh cụ thể mới tìm ra được các giải pháp phù hợp, máy móc dập khuôn thì thất bại. Nhiệm vụ mới anh phải đạt hiệu suất cao. Về QK được xem một số phim, có phim “Một ngày Hà Nội”, xem xong sao nhớ Hà Nội thế, nhớ em và các con quá… Còn bà: “Nếu không nhận được thư, tôi lo lắm, sợ có chuyện gì?. Nỗi lo sợ đó dường như đeo bám tôi từ khi ông đi chiến trường. 14 năm, là hơn 5000 ngày tôi sống trong thấp thỏm, lo âu, chờ đợi mỏi mòn. Khi ông trở về, tôi sung sướng khôn cùng. Hạnh phúc đến với tôi thật bất ngờ”. Lá thư ngày 1-5-1975, bà viết: “ Anh yêu thương! Tin chiến thắng dồn dập, nức lòng người, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Em lại càng mừng vì đỡ lo cho anh. Mong anh về với mẹ con em. Gần 14 năm rồi, nhiều đêm lo sợ anh không trở về được. Bây giờ chiến tranh đã chấm dứt, em mong ước gia đình ta sẽ sum họp bên nhau mãi mãi, cùng nhau nuôi dạy các con khôn lớn, học hành tiến bộ, tiếp tục xây dựng đất nước trong hòa bình…”.

Ngày đất nước thống nhất, ông khoác ba lô về Hà Nội đoàn tụ cùng vợ và ba con. Những cuốn nhật ký, những bức thư tình của ông bà viết bằng nhiều màu mực, thấm nhòe mồ hôi và nước mắt, giấy úa vàng theo năm tháng đã trở thành kỷ vật vô giá. Ông Ích tâm sự: Những bức thư thời chiến của chúng tôi cũng như triệu triệu bức thư thời chiến đã khắc họa sống động một phần cuộc đời của người lính, số phận của mỗi gia đình trong chiến tranh, có điều vui, nỗi buồn, có hạnh phúc, hy sinh nhưng đã góp phần làm nên chiến thắng của một dân tộc.

Trần Thanh Hằng

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác