Du lịch truyền thống
Ở vùng Tháp Sơn
QĐND - Thứ Năm, 13/10/2011, 14:25 (GMT+7)

QĐND - Ngày 13-2-1288, gần hai tháng trước khi nổ ra trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng, ở quãng giữa vùng cửa sông Văn Úc và cửa Nam Triệu, Hải Phòng (ngày ấy gọi là cửa Đại Bàng và cửa An Bang), đã có một trận đánh lớn cả ở trên bờ và dưới biển. Vì ở đây có một căn cứ thủy bộ quan trọng của các vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến lần thứ ba chống xâm lược Nguyên Mông. Do đó, đánh vào đây, trên bộ là tướng Tích Đô Nhi, và dưới biển là tướng Ô Mã Nhi, đều là những danh tướng của giặc.

Tích Đô Nhi thì kéo quân dọc theo đường sông Hồng tới, nhằm cướp bóc lương thực, đem về cho đại quân Nguyên Mông đang thiếu ăn khi chiếm đóng Thăng Long. Còn Ô Mã Nhi thì dẫn thuyền bè, đi đón đạo quân thủy vận tải lương thảo của tướng Trương Văn Hổ, từ chính quốc sang theo đường biển.

Tháp Tường Long. Ảnh tư liệu

Trước lực lượng mạnh của quân Trần, riêng mặt đánh thủy đã bố trí đến 1000 thuyền chiến và tài chiến đấu của ta, giặc đã bị đại bại. Tích Đô Nhi phải chạy lộn về Thăng Long mà chẳng vơ vét được mấy tý lương thực. Ô Mã Nhi thì mất đến 300 tàu thuyền, mà vẫn không đón được Trương Văn Hổ, vì đạo quân tải lương sang từ chính quốc của Trương Văn Hổ đã bị tướng Trần Khánh Dư đánh tan ở Vân Đồn trước đấy rồi.

Trận đánh ngày 13-2-1288 này, được chính sử nhà Nguyên, bộ “Nguyên sử” ghi chép và gọi tên là trận Tháp Sơn. Chuyển ngữ sang tiếng Việt, thì “Tháp Sơn” nghĩa là: (vùng, ngọn) núi (có, xây) tháp. Đây chính là tòa tháp cổ nổi tiếng, được đương thời và hậu thế biết đến với tên gọi là tháp Tường Long.

Tháp Tường Long được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng cùng lúc với tòa tháp Báo Thiên, một trong “Tứ đại khí” của nước Đại Việt ở Thăng Long. Những viên gạch xây tháp Tường Long vừa được phát hiện cùng có in khắc hàng chữ “Lý gia đệ tam đế, Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo”. Làm vào niên hiệu Long Thụy Thái Bình, năm thứ tư của vị Hoàng đế thứ ba, nhà Lý. Giống như những viên gạch xây tháp Báo Thiên, trước đây đã tìm thấy ở khu vực Nhà thờ Lớn, Hà Nội. Chuyển sang dương lịch, thì năm 1057 là nghĩa của hàng chữ khắc in trên gạch.

Tòa tháp xây từ giữa thế kỷ 11 này, ngự ở trên mỏm núi trông ra Biển Đông, giữa hai cửa sông, như một “Kình thiên trụ” (cột chống trời, là chữ của chính khách và nhà thơ Phạm Sư Mạnh, nổi tiếng ở thế kỷ 14, nói về “người anh em” của Tường Long, là Báo Thiên) suốt qua 6 thế kỷ, qua các thời Lý, Trần, Lê đến tận thế kỷ 19 - thời Nguyễn. Sách “Đại Nam nhất thống chí” của triều Nguyễn cho biết: Đến lúc ấy, tháp Tường Long vẫn còn 9 tầng, cao 100 thước ta, tức thị khoảng 40m. Kỳ vĩ, linh diệu là như thế, tháp Tường Long đã cho nơi xây dựng nó tên gọi (địa danh trận đánh): Tháp Sơn.

Nhưng chỗ núi gọi tên là Tháp Sơn này, có thể còn là nơi đã từng xây một tòa tháp nữa, cổ sơ (lâu đời) và kỳ bí (lạ lùng) thậm chí còn hơn cả Tường Long. Đó là tòa tháp mà qua lời chứng của các cổ thư Trung Hoa “Giao Châu ký” cuối thế kỷ 4, đầu thế kỷ 5, “Thủy Kinh chú” thế kỷ 6… thì đó là công trình tổ thành của một tòa thành cổ, có tên là “Nê Lê”, do A Dục Vương cho người đến dựng từ thế kỷ 3 trước Công nguyên.

A Dục Vương hoặc Dục Vương là cách gọi theo tiếng Trung Quốc của A-sô-ca trong Phạn ngữ Ấn Độ. Đấy là tên của người đứng đầu đế quốc Ma-u-ri-an rộng lớn, hồi thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, đã trùm thế lực lên cả một vùng Nam Á rộng lớn mà trung tâm là Ấn Độ. Vua A-sô-ca là người mộ đạo Phật, do đó, được coi là có công đức xây dựng đến 4.800 tòa “phù đồ” (thành, tháp) ở khắp nơi, trong đó có thành Nê Lê.

Nê Lê, đọc tiếng Hán Việt theo văn phạm Việt ngữ có nghĩa là “Bùn đen”. Đó chính là đặc trưng thổ nhưỡng của vùng bờ và biển giữa hai cửa sông Văn Úc và Nam Triệu. Còn nếu là phiên âm Hán ngữ của tiếng Phạn (SansKrit) thì có nghĩa là “Hang ngục”. Truyền thuyết về ngôi chùa Hang “Cốc tự” ở miền núi Ngọc “Mẫu Sơn” trên bờ biển giữa hai cửa Văn Úc và Nam Triệu cũng kể rằng về thời Hùng Vương, có một nhà sư Ấn Độ đã đến lập ban thờ, tu hành và hóa thân ở chỗ này.

Vậy là địa danh và trận đánh Tháp Sơn, ngoài và cùng với việc có nguồn gốc là, hoặc liên quan đến tháp Tường Long về thời vua Lý Thánh Tông thế kỷ 11, thì còn có cơ sở từ sự tích truyền kỳ về tòa thành - tháp Nê Lê từ thời vua A-sô-ca thế kỷ 3 trước Công nguyên.

Vào năm 1958, ở nơi đã diễn ra trận đánh “Tháp Sơn” ngày 13-2-1288, một quả chuông cổ, lớn và đẹp bậc nhất trong các “đại hồng chung” nước Việt xưa đã được phát hiện và trục vớt lên từ dưới lòng biển. Chuông có niên đại 800 năm về trước (giao thời Lý-Trần), được quen gọi trong các tài liệu nghiên cứu là “Chuông chùa Vân Bản ở Đồ Sơn”. Điều đáng chú ý là giữa những hàng chữ cổ khắc trên quả chuông chùa Vân Bản (Đồ Sơn) này cũng đã đọc được có hai chữ “Đồ Sơn” trong tổ hợp từ “Tháp Đồ Sơn”.

Vậy là tên gọi “Đồ Sơn” cũng đã xuất hiện, tồn tại cùng thời với “Tháp Sơn”. Và đấy cũng là địa danh, nơi xuất phát của những “con Tàu không số” làm nên huyền thoại của Đường Hồ Chí Minh trên biển.

GS Lê Văn Lan

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác