Hồ sơ tư liệu
Buôn Ma Thuột
Điểm quyết chiến chiến lược
QĐND - Thứ Tư, 14/03/2012, 16:34 (GMT+7)

QĐND - LTS: Chiến thắng Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975), trận mở màn, then chốt của chiến dịch Tây Nguyên trong mắt các học giả phương Tây một lần nữa khẳng định quan điểm kinh điển rằng “ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”.

Giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975.

 

Chuẩn bị chiến trường hoàn hảo

Trong sách Đường mòn Hồ Chí Minh - con đường dẫn tới tự do (History of the Ho Chi Minh Trail: The Road to Freedom), tác giả Vớc-gi-ni-a Mo-rít-xơ (Virginia L.Morris) nêu bật quá trình chuẩn bị trận đánh do Bộ đội Trường Sơn tiến hành:

“Cuối năm 1974, khi phe cộng sản bắt đầu lập kế hoạch cho trận đánh Buôn Ma Thuột, họ vẫn trù tính là sẽ phải tranh đấu hai năm liền nữa cho tới toàn thắng. Để bảo đảm mọi mặt về hậu cần, tướng Đinh Đức Thiện soạn thảo hai phương án. Phương án thứ nhất, rất tỉ mỉ, cho phép giành thắng lợi sau trận đánh dài ngày, còn kế hoạch thứ hai mang tính thời cơ và dùng khi xuất hiện khả năng chính quyền Sài Gòn lung lay, sắp đổ. Khi kế hoạch tác chiến của chiến dịch Tây Nguyên đã ở giai đoạn hoàn thành, Binh đoàn Trường Sơn được lệnh vận chuyển đến địa điểm tập kết nửa triệu tấn hàng hóa và vũ khí, dành cho mùa khô năm 1974-1975.

Chỉ tiêu này được đưa ra để kiểm nghiệm khả năng vận chuyển “thần tốc” tại điểm cực đại, vì 5000 xe vận tải sẽ được huy động tham gia vào mạng lưới đường của Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn), vào cùng một giờ xuất hành, làm cho vấn đề ùn tắc trở thành nguy cơ nghiêm trọng. Ở tuyến Đông Trường Sơn, đã mở đường từ huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Bù Gia Mập, còn tuyến đường ống dẫn dầu đã được nối dài thêm, từ Plây Khốc về phía nam. Các cứ điểm của quân đội Sài Gòn dọc theo biên giới với Cam-pu-chia cũng bị vây đánh, bảo đảm cho tuyến đường vận tải từ Đắc Min đi Lộc Ninh luôn thông suốt.

 

Vào ngày 15-12-1974, khi Binh đoàn Trường Sơn được lệnh xây dựng các kho tích hàng cho trận Buôn Ma Thuột và suốt hai tháng tiếp theo, nhiều chỉnh sửa trong kế hoạch bảo đảm đã được thực hiện. Sở chỉ huy (SCH) của Sư đoàn công binh 470 trở thành SCH của Binh đoàn Trường Sơn. Một số đơn vị của Bộ đội Trường Sơn cũng chuyển tới Sa Thầy, các đơn vị khác cũng chuyển tới đóng quân ở Bù Đốp và Lộc Ninh. Tuyến đường ống dẫn dầu được nối dài thêm tới Đắc Đam, bởi Trung đoàn đường ống 537. Trung đoàn 575 mở thêm 60km của gói đường, lấy tên là Đường 48, 50, và 50B. Tới đầu tháng 3-1975, Binh đoàn Trường Sơn đã thông đường chỉ còn cách Buôn Ma Thuột có 20km…

Trong giai đoạn chuẩn bị, yêu cầu tối hậu là phải bảo đảm bí mật tuyệt đối cho trận đánh Buôn Ma Thuột sắp tới. Buôn Ma Thuột là vị trí xung yếu, án ngữ cả miền Trung của Việt Nam, phía đông của đồng bằng sông Mê Kông, Trung và Hạ Lào, lẫn miền Bắc Cam-pu-chia…

Với quyết tâm cao, vào ngày 9-3, Trung đoàn 575 công binh đã thông đường 50B và hai đường nhánh mang tên 50C, cho phép chuyển quân thẳng tới Buôn Ma Thuột. Sư đoàn BB 968 được vận chuyển tới tác chiến tại đông nam Plây-cu, tạo nên mũi nghi binh. Các lực lượng trực thuộc Binh đoàn Trường Sơn trực tiếp tham gia trận Buôn Ma Thuột còn có Sư đoàn phòng không 377 và hai Trung đoàn phòng không 232 và 546…”.

Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 Quân đội Sài Gòn (ngoài cùng bên phải) tiếp Nguyễn Văn Thiệu tại Plei-cu trước khi trận Buôn Ma Thuột nổ ra. Ảnh tư liệu

Cài thế trận

Trong bài Tổng tiến công Xuân 1975: Trận pháp đánh đòn kết thúc chiến tranh(1) có một không hai trong lịch sử (North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil) đăng trên tập san Pa-ra-mi-tơ (Parameter) của Mỹ, số Mùa Đông 1999-2000, Mớc-lơ Prai-bơ-nao (Merle L.Pribenow), cựu chuyên viên về Đông Dương của CIA, viết:

“Buôn Ma Thuột là thủ phủ của người thiểu số Tây Nguyên, có dân số chừng một vạn. Ở đây có sở chỉ huy và hậu cứ của Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn, trong đó có tổng kho Mai Hắc Đế với một số lượng đạn pháo lớn. Thị xã này là một đầu mối với hai “mặt tiền” trên hai quốc lộ giao nhau, đó là đường 14 chạy từ Kon Tum xuống phía Nam về giáp mạn Bắc Sài Gòn, cắt với đường 21 chạy sang phía đông về thành phố lớn Nha Trang miền duyên hải. Nếu Quân đội nhân dân (QĐND) lấy được Buôn Ma Thuột, nhanh chóng kéo lên đánh chiếm Plây-cu, cắt Việt Nam làm đôi. Quân đội Sài Gòn không thể để mất một vị trí chiến lược như vậy và buộc phải phản kích để chiếm lại... Quân phòng thủ Buôn Ma Thuột lại chỉ gồm một trung đoàn tăng cường (Trung đoàn 53), một tiểu đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn pháo cùng một số đơn vị địa phương đảm nhiệm, nên một cuộc tiến công áp đảo và bất ngờ sẽ làm thị xã này nhanh chóng rơi vào tay đối phương. QĐND sẽ tổ chức ngay trận địa đón lõng và tiêu diệt viện quân của Sài Gòn ngơ ngác vừa tới, còn trơ trọi giữa đồng không mông quạnh…

Chiến dịch Tây Nguyên của QĐND khá táo bạo và đầy sáng tạo, tựa như một ánh xạ của binh pháp Lít-đeo Han-lơ (B.H. Liddell Hall) về mưu lược. Đòn đánh của QĐND không nhằm vào chỗ mạnh nhất của đối phương mà trái lại, vào một cứ điểm có vai trò chiến lược nhưng yếu về phòng thủ, đồng thời kẻ địch không thể để mất. Kế hoạch hội tụ mọi yếu tố của phép dùng binh: Tập trung binh lực, thần tốc, bất ngờ và nghi binh. Về tổng quan, chiếm được Buôn Ma Thuột, QĐND tất đoạt được quyền lựa chọn rộng rãi để thực hiện đòn đánh tiếp sau. Còn Quân đội Sài Gòn vốn dĩ đã bị kéo căng, dàn mỏng, lại phải ra sức phán đoán trận tới sẽ diễn ra ở đâu. Kịch tính của chiến cuộc này là ở chỗ sẽ đặt Sài Gòn vào thế trận mà nhà quân sự Lít-đeo Han-lơ rất hài lòng gọi là “thế tiến thoái lưỡng nan”...

Một số cuốn sách về trận Buôn Ma Thuột xuất bản ở phương Tây.

 

Vào cuối tháng 2-1975, các sư đoàn chủ công (gồm các Sư đoàn 10, 320 và 316) của QĐND đã chiếm lĩnh trận địa tiến công. Ngày 1-3, Sư đoàn 968 ở Lào về đánh một số đồn bốt nhỏ phía Tây Plei-cu để tiếp tục thu hút sự chú ý của đối phương vào hướng này. Ngày 4-3, QĐND “phát bóng trước”(2), bằng chỉ một đòn đánh của Trung đoàn 95 A, họ quét sạch một loạt cứ điểm nhỏ của quân Sài Gòn canh giữ trục đường 14 trên đoạn đèo Mang Giang, cắt đứt đường tiếp tế cho Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên-ND). Ở phía đông Quốc lộ 19, Sư đoàn 3 Quân giải phóng miền Nam tiến công cắt đứt con đường huyết mạch này, đánh quỵ luôn Sư đoàn 22 của Sài Gòn. Ngày hôm sau Trung đoàn 25 QĐND cắt nốt Quốc lộ 21, con đường ven biển còn lại, nối Buôn Ma Thuột với Nha Trang... Mồng 8-3, Sư đoàn 320 tràn ngập một huyện lỵ bắc Buôn Ma Thuột, cắt đứt đoạn đường 14 nối với Plei-cu. Đến lúc này, khi Buôn Ma Thuột đã bị cô lập hoàn toàn, chính quyền Sài Gòn vẫn chưa có phán đoán gì ngoài nguy cơ Tây Nguyên sẽ bị cạn kiệt lương thảo. Nhằm đánh lạc hướng, không để cho Sài Gòn tăng quân cho Tây Nguyên, một ngọn trào tấn công của quân cộng sản đã dâng lên: Ngày 5-3 đặc công và du kích đánh vào vùng xuôi ở Quảng Trị-Thừa Thiên; còn vào ngày 8-3 Sư đoàn 324 đánh mạnh vào tuyến phòng thủ quân Sài Gòn ở tây nam thành Huế. Cùng ngày 8, một loạt công kích đã diễn ra ở khu vực Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long, mà đỉnh điểm là đánh chiếm một huyện lỵ ở Tây Bắc Sài Gòn. Rõ ràng phe cộng sản sắp đánh lớn đến nơi rồi, nhưng trên toàn Miền đâu là mặt trận chính? Đáp án của Thiệu và các tướng, tá là mối đe dọa sẽ đến với đô thành Sài Gòn. Kế hoạch nghi binh của QĐND quả là vô cùng hoàn hảo...”.

Tạo thế “chẻ tre”

Trong sách Việt Nam chiến sử 1946-1975 (Vietnam at war The History 1946-1975), của tướng Phi-líp Đê-vít-xơn (Phillip Davidson), tác giả nhấn mạnh các yếu tố thiên - địa - nhân trong việc Buôn Ma Thuột trở thành “quyết chiến điểm”.

“Như thường lệ, cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột của QĐND có “sự hỗ trợ” từ chính lãnh đạo của Quân đội Sài Gòn. Sách lược cứng nhắc của Thiệu là chốt giữ mọi nơi đã trói quân họ vào số phận bi đát của cách phòng ngự phân tán, dàn trải, vào đúng lúc đội quân này thiếu năng lực không vận, dẫn tới việc Sài Gòn không thể cơ động được quân dự bị chiến lược, một lực lượng thực ra cũng không còn tồn tại, tới các khu vực bị đe dọa tiến công. Viên tư lệnh Quân đoàn 2, tướng Phạm Văn Phú còn “đóng góp” thêm phần mình vào việc “giúp” chỉ huy của đối phương. Bất chấp những đánh giá của tình báo Quân đoàn, của J-2 (Nha Kỹ thuật, cơ quan tình báo của quân đội Sài Gòn), Phú vẫn chắc mẩm đến phút cuối là Plei-cu hoặc Kon Tum mới là mục tiêu chính của quân Bắc Việt ở Tây Nguyên. Tới tận 1-3-1975, Phú mới không vận Trung đoàn 23 về Buôn Ma Thuột…”.

Tướng Đê-vít-xơn cũng không tiếc lời ca ngợi hệ thống bảo đảm hậu cần của QĐND cho chiến cuộc Xuân 1975, lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, đã đạt trình độ hiện đại, ưu đẳng, cực kỳ chu đáo. Ở cuối sách, trả lời câu hỏi vì sao Việt Nam cộng hòa sụp đổ nhanh chóng, tướng Đê-vít-xơn viết:

“Chính cuộc tiến công Buôn Ma Thuột đã đẩy nhanh Thiệu vào việc chấp nhận kế hoạch khốc hại, là “xén bớt” lãnh thổ (bỏ các khu vực không còn năng lực chốt giữ để thích ứng với cắt giảm của viện trợ Mỹ-ND) và cuộc truy kích của quân cộng sản tại các vùng chiến thuật I và II đã hủy hoại tinh binh của quân đội Sài Gòn… Miền Bắc đã giành được những chiến công như thế là nhờ không chỉ đưa vào trận một lực lượng áp đảo về số lượng, mà còn nhờ đạt được độ thăng hoa cả về chỉ huy, huấn luyện lẫn tinh thần chiến đấu…”.

Lê Đỗ Huy

 

(1) Chữ trong nguyên văn là nước cờ chiếu hết (endgame)

(2) Thuật ngữ bóng đá, bóng ném (kick-off) dùng chỉ trận mở màn chiến dịch.

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác