Hồ sơ tư liệu
Nội tình quân đội trong “Mùa hè đỏ lửa”
QĐND - Thứ Năm, 19/04/2012, 10:12 (GMT+7)

QĐND -  Sự kiện và Nhân chứng xin điểm một số báo Mỹ ra giữa năm 1972 về nội tình quân đội Mỹ-Thiệu, khi cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân Giải phóng đang diễn ra quyết liệt trên toàn miền.

Quân Mỹ muốn rời “chiếc tàu đắm”

Báo Life ra ngày 28-4-1972 đăng bài “Bút ký từ địa ngục” (The North Vietnamese Offensive: April 1972 Report from the Inferno). Trái với những lời bàn về “những chiến thắng chưa được điều nghiên” của thống tướng A-bram (Abrams[1]), ký giả Giôn-xa-anh (John Saar) đã chỉ ra rằng tới lúc đó quân Mỹ đã không còn muốn chiến đấu bảo vệ lợi ích của “đồng minh Nam Việt Nam”. Tờ Life tường thuật:

… Trong sự yên ả của sở chỉ huy trang bị điều hòa nhiệt độ của viên cố vấn trưởng Mỹ, cuộc chiến tranh như ở đâu đó, xa vời… Trên giá là các sách cần đọc về chiến tranh du kích. Trên cửa là bài thơ của tác giả - cố vấn Mỹ này.

“Lòng tôi đâu muốn chạy con tàu này
Một khi tôi không thể kéo hồi còi về ga
… Đành mặc cho con tàu này trật đường
Và đành nhìn những ai bị rơi xuống địa ngục

Viên đại tá Mỹ không còn e ngại điều gì… Ngay trong cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, các ký giả phương Tây đã học được cách cảnh giác với một khối lượng lớn chưa từng có những tin giả vờ lạc quan đang trôi nổi khắp nơi… Tại một căn cứ hỏa lực gọi là Bát-xtôn (Bastogne) ở tây nam Huế, một tiểu đoàn quân đội Sài Gòn đang không còn hơi sức cầm súng, không thể sơ tán được thương binh và lính tử trận, đang thiếu lương thực, nước, và đạn…

Những chiếc xe tải chở lính một đại đội thuộc Lữ đoàn 196 của Mỹ đang nổ máy lao đi… Những người lính Mỹ khác giải thích rằng vừa xảy ra một cự tuyệt nhất thời của một đại đội Mỹ khi được lệnh đi ra chiến trường. Những người lính Mỹ tỏ ra có lý và đúng mực, nên sau hai giờ được thuyết phục, họ đồng ý ra trận. Nhưng lính Mỹ chỉ chấp nhận các hành động chiến đấu để tự bảo vệ mình, cũng như bảo vệ những người Mỹ khác mà thôi…

Trung tá Phạm Văn Đính - chỉ huy, Trung tá Vĩnh Phong-chỉ huy phó dẫn binh sĩ Trung đoàn 56 đầu hàng cách mạng. Nguồn: Báo chí Phương Tây

Lính Sài Gòn chiến đấu cho... quan

Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (The Washington Post) đầu tháng 7-1972 đăng phóng sự của Pi-tơ Brét-xtrớp (Peter Braestrup) Lính Sài Gòn phục vụ quan, không phụng sự dân tộc (Viet Soldier Serve Officer, not Nation)”. Ký giả này viết:

Trạc 20 tuổi, người gầy nhom, Nguyễn Văn Lớn đang dưỡng thương cho vết thương ở cổ, sau trận 11-5-1972, khi quân đội Sài Gòn lâm vào trận chiến tưởng như không có hồi kết để mở đường Quốc lộ 13 vào giải vây An Lộc, nằm cách Sài Gòn 60 dặm.

Đối với Lớn, cũng như với nhiều thanh niên nông thôn Việt Nam, các khái niệm như “quốc gia”, “Cộng sản”, và “chính phủ” khá trừu tượng, xa lạ… Là người theo đạo Cao Đài trên danh nghĩa, Lớn học đến lớp 4 ở trường rồi nghỉ phụ với mẹ bán hàng ngoài chợ tại một làng nhỏ thuộc thánh địa Tây Ninh. Chị gái của Lớn lấy một trung sĩ quân đội Sài Gòn, còn em gái hiện đang bán hàng hoa tại một căn cứ không quân ở Sài Gòn.

Năm 1970, Lớn được đưa tới trung tâm huấn luyện Quang Trung (đầu ra: 39 nghìn người/năm), nơi anh ta trải qua 10 tuần huấn luyện. Sau đó Lớn nhập vào một tiểu đoàn quân số 500 lính của Sư đoàn 25, gần Trảng Bàng nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Năm 1970 và 1971 không quá nghiệt ngã đối với đơn vị của Lớn. Vì cuộc xâm lược của Mỹ - Thiệu sang Cam-pu-chia đã đẩy đa số các tiểu đoàn chính quy ra khỏi địa bàn tác chiến.

“Chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi tỏ ra dễ dãi với lính, nhưng ông ta không gan dạ”, Lớn nói thêm, “chúng tôi chưa phải dự những trận đánh”.

Từ khi cuộc tiến công 30-3-1972 tại miền Đông Nam Bộ bắt đầu, hiện tượng đào ngũ tiếp diễn. Theo các nguồn chính thức, số lượng đào ngũ vượt lên con số 12 nghìn lính/tháng - tỷ lệ đào ngũ của năm 1971, và cảnh sát càng hăng hái ruồng bố lính đào ngũ.

Cuối năm 1971, Lớn được chuyển sang Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 31, đơn vị đang tiến hành tác chiến ác liệt hơn tại các kênh rạch trong rừng U Minh, vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 Nhận xét này của Lớn khớp với một quan điểm phổ biến trong các cuộc nói chuyện của các sĩ quan Nam Việt Nam với cố vấn Mỹ, trong đó họ bình luận về khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam như sau: binh lính quá dựa dẫm vào cá nhân người chỉ huy, chiến đấu không có được lý tưởng.

Thực vậy, một lính Sài Gòn khác, có học, thuộc Sư đoàn 3, được điều ra Quảng Trị vào tháng 5-1972 và hiện nay đang xây dựng lại, nói: “Trong quân đội Nam Việt Nam, người lính không phụng sự tổ quốc hay phục vụ quân đội. Anh ta làm việc cho một cá nhân cụ thể. Nếu cá nhân cầm đầu này ăn cắp gạo, bạc đãi lính, đơn vị sẽ thuộc loại kém”.

“Trong quân đội Sài Gòn”, một cố vấn Mỹ kỳ cựu nói “mỗi lính đều tìm kiếm sự được cai quản, sự khâm phục. Thứ văn hóa này áp đặt một gánh nặng khủng khiếp ngay cả lên những chỉ huy tiểu đoàn chính cống. Anh ta phải quyết định mọi việc. Nếu anh ta bị thương hoặc tử trận, cả tiểu đoàn gồm 500 người sẽ tan ra từng mảnh”.

Thực trạng này gây tổn thất trầm trọng cho quân Sài Gòn trong cuộc tiến công Xuân 1972 của cách mạng. Chẳng hạn, tiểu đoàn thiết giáp 20, được trang bị mới tới 56 xe tăng M48, ban đầu được báo cáo là tác chiến thuận lợi tại thành Quảng Trị tháng 4-1972, cho đến khi viên chỉ huy tiểu đoàn bị thương. Sau đó, tiểu đoàn này tan rã thành từng mảnh.

Quan Sài Gòn phụng sự... Tổng thống

Bằng phóng sự dài “Quan và lính Sài Gòn: Tháng 7-1972”, ký giả Pi-tơ Brét-xtrớp đưa ra một tổng quan về chính quyền Sài Gòn: Khá tạp nham, ngập ngụa trong tham nhũng, và trong mâu thuẫn giữa việc cất nhắc những tay chân trung thành nhưng kém tài của Thiệu với việc phải dùng những nhân vật chống đối Thiệu ở các mức độ, nhưng được lòng chủ Mỹ, do có vẻ “chiến đấu cho tự do” hơn.

Tác giả chỉ ra xu thế quân phiệt, quân sự hóa bộ máy chính quyền Sài Gòn. Pi-tơ Brét-xtrớp  viết:

“Với mối đe dọa bởi chiến tranh du kích tồn tại khắp nơi, 44 vị tỉnh trưởng, 220 quận trưởng và 6 thị trưởng tại các thành phố lớn của hệ thống tập quyền theo kiểu Pháp ở miền Nam Việt Nam đã từ lâu là nhà binh. Họ vừa có trách nhiệm lãnh đạo quân địa phương và dân vệ, vừa điều hành bộ máy quan liêu dân sự”.

Pi-tơ Brét-xtrớp  cho hay từ Tết Mậu Thân, tư lệnh Mỹ A-Bram đã nhiều lần nhắc nhở Thiệu rằng ba đơn vị “tậm tịt” (lackluster) đóng quanh Sài Gòn là Sư đoàn 5, 18, và 25 phải được chỉ huy bằng các sĩ quan cứng cỏi, có khả năng, chứ không chỉ là những kẻ trung thành. Thiệu cứ lần lữa, vì các đơn vị yếu kém này có thể trở thành một đòn đảo chính cốt tử tại “Thủ đô” Sài Gòn.

Tuy nhiên, dưới sức tấn công dồn dập của Quân Giải phóng đầu năm 1972, vẫn theo Pi-tơ Brét-xtrớp, Thiệu đã thải hai trong số 4 tư lệnh vùng chiến thuật, thay 3 trong số 13 tư lệnh sư đoàn, hoán đổi hơn chục trong số 44 ghế tỉnh trưởng…

Pi-tơ Brét-xtrớp  điểm danh các tướng dưới tướng Thiệu. Thủ hạ trung thành nhất phải kể Hoàng Xuân Lãm. Năm 1967, khi các tướng khác còn do dự, Lãm từng ném lon đòi về vườn để bày tỏ sự trung thành với Thiệu, buộc các tướng kia phải chọn Thiệu thay cho Kỳ. Cố vấn Mỹ gọi Lãm là “vị lãnh chúa hay vắng mặt”, chê hắn là chỉ ăn chơi, đánh nhau tồi… Lãm, cùng các tướng khác, vừa chịu sốc mạnh bởi cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, bắt đầu từ tháng 4-1972. Nguyễn Văn Toàn, thủ hạ của Lãm, một tay chỉ huy tròn vai nhưng là “vua buôn lậu quế” cùng với vợ Lãm… Chuẩn tướng Lý Tòng Bá kết hợp sự hăng máu đánh “Việt Cộng” với đời sống quá xa hoa so với đồng lương. Đô đốc Chung Tấn Cang từng “dính án” biển thủ, trục lợi được Thiệu tin dùng làm Trưởng ban chống tham nhũng, rồi tư lệnh Đặc khu Thủ đô, để dẹp nguy cơ đảo chính. Một tay hòm chìa khóa của Thiệu là Đặng Văn Quang, được Pi-tơ Brét-xtrớp xem là sự pha trộn giữa “Ét-ga Hu-vơ (Edgar Hoover-giám đốc FBI, vì Quang phụ trách an ninh quân đội), Các-min Đờ-Sa-pi-rô (Carmine DeSapio-chính khách Mỹ, can tội biển thủ và bày đặt âm mưu thủ đoạn) và Rô-bớc Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara - trung thành với các tổng thống)…”.

“Trong sạch” có Đại tá Nguyễn Văn Chúc, Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Nguyễn Văn Chúc ra mặt chống tham nhũng, bị Thiệu xếp vào nhóm “phá quấy”. Tướng Cao Văn Viên tuy lờ phờ, nhưng Thiệu đánh giá là “có chuyên môn”, và được cái trung thành với tổng thống.

Người lái con tàu đắm

Pi-tơ Brét-xtrớp kết luận bài viết: “Nhưng Thiệu đang gặp vấn đề.

Ngay cả khi ông ta muốn, ông ta không thể đột nhiên tháo bỏ hệ thống chính trị mà một phần ông ta được thừa hưởng, một phần khác do ông ta tạo dựng. Không có một cấu trúc quyền lực nào khác hiện diện hoặc có thể nhanh chóng được tạo ra, để có thể thay thế hệ thống ngành dọc về quân sự hiện hành cũng như bộ máy hành chính dân sự đang chỉ đạo nó.

Hơn nữa, mọi đánh giá đều cho thấy Thiệu có thể lại tiếp tục xoay xở một cách tệ hại về mặt quân sự bằng những phương án lỗi thời”.

Lê Đỗ Huy (dịch)

[1] Sách Một cách làm chiến tranh tốt hơn: Các chiến thắng chưa được điều nghiên và kết thúc bi kịch trong những năm cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam (A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam), NXB Houghton Mifflin Harcourt; June 3, 1999.

 

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác