Tòa soạn:
Số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội
Tel: (84 - 4)3747 1748 / 3747 1029
Fax: (84 - 4) 3747 4913
E-mail: dientubqd@gmail.com
Liên hệ Quảng cáo: (84 - 4)3747 3757
Sáng tác
Có một “dòng sông cháy” thành thơ!
QĐND - Thứ Tư, 12/10/2011, 14:29 (GMT+7)

QĐND - Có lẽ không cần phải đọc mấy dòng tự giới thiệu trình bày khiêm tốn ở phần gấp của trang bìa, người đọc vẫn dề dàng nhận ra Tạ Quỳnh Phương, tác giả tập thơ “Dòng sông cháy” (NXB Hội Nhà văn-2011) là một người lính Thành cổ “thứ thiệt”. Bởi không phải là người lính đã lăn lộn trong chiến hào Thành cổ Quảng Trị trọn 81 ngày đêm của “mùa hè đỏ lửa” năm ấy, khó mà viết được những câu thơ gan ruột, lấm bùn đất chiến hào trộn máu xương đồng đội... như thế! Và “dòng sông cháy” ấy chính là Thạch Hãn ngày nào nhuộm đỏ cả dòng xanh trong một bài thơ hành hương về lại chiến trường xưa của anh.

“Dòng sông cháy” là tập thơ riêng đầu tay của Tạ Quỳnh Phương, được ra mắt nhân kỷ niệm tròn 40 năm anh cùng bạn bè xếp sách vở, tạm biệt giảng đường để “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cũng như Hoàng Nhuận Cầm, Vũ Đình Văn, Nguyễn Văn Thạc, Nguyễn Kỳ Sơn... của lứa “lính sinh viên” tài hoa ra trận năm ấy, Tạ Quỳnh Phương cũng ghi nhật ký chiến trường và làm thơ giữa những trận đánh, tranh thủ những “Phút im lặng hiếm hoi”:

Thành cổ canh năm sao im lặng quá

Chú dế không rung râu viết nhạc

Hát bài ca từ đất muôn đời...

...

Chỉ còn lại căn hầm nặc nồng mùi xác

Ngồi dậy nhớ tiếng gà gáy ban mai...

Không phải là những người trong cuộc, không thể kể về một cuộc hành quân đêm như thế này: Đêm về khuya pháo nặng trĩu hơn/ Đi bằng đầu nên bước chân vẫn tới/ Sắt thép xem chừng cũng mỏi/ Mà xương thịt này vẫn bước đều chân... Và đây là một câu chuyện có thật: Ngày 2-9-1972, trong tiêu chuẩn Tết Độc lập của mỗi chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị có nửa gói thuốc lá Tam Đảo. Một đồng đội của anh, chiến sĩ Tạ Hữu Kỳ, chỉ dám “hút dè” nên lúc hy sinh vẫn còn gần nửa gói thuốc lá trong ngực áo. Câu chuyện ấy đã được Tạ Quỳnh Phương ghi lại: Có cơn thèm bạn nén đến tàn hơi/ Nhét gói thuốc còn thơm lên ngực áo/ Ra đi, gói thuốc ngầu những máu/ Trong ngổn ngang bụi lửa bừa trời/ Mang theo nỗi khát thèm vào đất...

Ra khỏi cuộc chiến tranh, trở lại trường đại học, rồi lập nghiệp mưu sinh mấy chục năm nay, nhưng ký ức chiến trường vẫn day trở khôn nguôi và hễ có dịp là trỗi dậy, trào ra đầu ngọn bút Tạ Quỳnh Phương. Đặc biệt, mỗi dịp trở về thăm chiến trường xưa là mỗi dịp tình đồng đội, nghĩa đồng bào lại “cháy” trong thơ anh:

Tôi muốn thắp nén hương cho thơm cả bầu trời

Tôi muốn khấn lên chín tầng mây vang dội

Nơi đâu cũng máu xương đồng đội

Biết làm sao đây cho trọn nghĩa vẹn tình?

Lạc vào thế giới tâm linh của đồng đội, có lúc anh như người “ngớ ngẩn”: Tôi muốn lật tung cả Thượng Phước lên/ Tôi ước ao nhìn thấu địa tầng/ Tìm lại bạn tôi bạt ngàn dưới đất... Nhưng điều đó là không thể, nên anh đành phải chấp nhận hiện thực đau xót: Tìm các anh đau đáu nỗi lòng/ Thịt nát, xương tan, bom hất vung vãi/ Mộ mới lấp, bom đào đi xới lại/ Hồn các anh vương vất nơi đâu?/ Muốn thắp nén hương cho vơi nỗi hận sầu/ Đành hướng lên trời xoay ba vòng trắng... Ám ảnh những hy sinh, mất mát đến mức mỗi địa danh trên chiến trường xưa cũng được anh “dịch nghĩa” ra để so sánh với những oan nghiệt ngang trái của chiến tranh: Trường Bồ đề mà sao thành nơi chết chóc? Đất Thượng Phước mà sao nhiều tai họa?... Lại có khi anh nghẹn ngào “chơi chữ”: Ái Tử còn nguyên nghĩa nữa không?/ Để đau đáu nỗi lòng mắt mẹ/ Nhan Biều cháy những ngày hè rực lửa/ Tội tình chi thiêu trụi chốn quê lành?... Và: Nước mắt chảy nhiều nơi này thành Như Lệ/ Xương thịt chất cao đất hóa Tích Tường... Với niềm tâm thức và dòng liên tưởng ấy, giữa cuộc sống thường nhật, đôi khi một vầng trăng đêm lạnh, một vòm phượng ngày hè... cũng gợi cho anh một gương mặt, một cảnh ngộ, một kỷ niệm thời bom đạn mà thế hệ các anh đã phải trải qua.

Cùng với những bài thơ một thời máu lửa trên đây, “Dòng sông cháy” còn một mảng đề tài “hòa bình” khá đa dạng. Anh ra Côn Đảo ngắm Hàng dương bạc đầu gió cát/ Sóng xõa trắng lởm chởm hàm cá mập. Anh đến Cửu Thác Tú Sơn gặp Chín tầng thác/ Chín khúc ruột mềm... Anh lên Mẫu Sơn, ngẩn ngơ trước vẻ đẹp núi non để thấy mình lỗi hẹn. Anh nghỉ ở Cửa Lò tưởng lạc chốn Hòn Mê. Anh ngược A-xu-ma thấy cây đá kia vẫn nóng rẫy chờ mong. Anh chèo thuyền trên hồ Ba Bể để chòng chành lạc vào cõi mơ. Rồi anh lên Hà Giang, qua Côn Minh nữa... Những bài thơ như những trang nhật ký lữ hành, nhưng dạt dào tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người... và ẩn chứa nhiều suy ngẫm nhân tình thế thái; nhất là trong những bài thơ anh viết cho những người thân yêu ruột thịt.

Tuy nhiên, ấn tượng hơn cả trong tập thơ này, theo chúng tôi vẫn là những bài thơ viết về “dòng sông cháy” và... mùa hè đỏ lửa. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi những câu thơ bật ra từ sự tột cùng yêu thương, đớn đau, như máu ứa từ trái tim người lính, thì dẫu chưa thật là thơ vẫn đến được với trái tim người đọc. Huống hồ đây lại là thơ của một người lính sinh viên, một cây bút ngồn ngộn vốn sống. Từ những chi tiết đời sống được chứng kiến, trải nghiệm, Tạ Quỳnh Phương đã biết chọn lọc và sử dụng thành những chi tiết văn chương độc đáo, điển hình: Có một hoàng hôn thành tẩu thuốc/ Nghi ngút đại ngàn Tam Đảo mây chao. Hoặc: Viên gạch Cổ thành sót lại lặng yên/ Ném trả tôi cái nhìn tức ngực/ Như mắt bạn tôi không kịp khép/ Trắng xóa một thời trai/ Tiếng chuông như một tiếng thở dài/ Lút vào gạch vào cỏ cây vào lá... Dồn nén, ẩn dụ, ám tượng... như thế hỏi còn gì lay thức hơn nữa? Trong “Dòng sông cháy”, có không ít những câu thơ, khổ thơ khá chắc tay, như: Lượm cành mai vàng/ tôi thả nắng xuống giá băng; hoặc: Sóng chập chùng nghiêng lệch cả hoàng hôn/ Bước chân níu vào dĩ vãng Côn Sơn; hay: Hố bom sâu, sâu hoắm cuộc đời/ Cây tre xanh bóc ra ruột cật/ Không nguôi những cuộc đời có thật/ Mà thành gạch đá không tên v.v...

Đọc những câu thơ như thế, càng có cơ sở để hy vọng, trông chờ ở chặng đường thơ trước mắt của Tạ Quỳnh Phương!

Tuyên Hóa
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác